Hiện trạng – Ba lô”, “cà phê”, “ô tô”… Mỗi ngày, hàng triệu người Việt Nam vẫn sử dụng những từ vay mượn từ tiếng Pháp mà không hề nhận ra điều đó. Từ một di sản để lại từ thời kỳ Pháp thuộc, tiếng Pháp đã dần mất đi vị thế vốn có tại Việt Nam.
—Romain Ferrier
Hiện nay, chưa đến 1% dân số Việt Nam còn sử dụng tiếng Pháp, theo số liệu mới nhất của Đài quan sát Quốc tế về Cộng đồng Pháp ngữ (Observatoire international de la Francophonie). Con số này tương đương khoảng 693.000 người trong tổng số gần 100 triệu dân.
Thế nhưng, suốt gần một thế kỷ, tiếng Pháp – ngôn ngữ của Molière – từng là một phần cốt lõi của đời sống Đông Dương (và do đó là Việt Nam), như một di sản để lại từ thời kỳ Pháp thuộc trên bán đảo này.
Muốn hiểu vì sao tiếng Pháp từng có một vị thế đặc biệt ở Đông Dương cần nhìn lại bối cảnh lịch sử từ nửa sau thế kỷ XIX. Dưới triều Nguyễn, lãnh thổ Việt Nam được chia thành ba kỳ: Nam Kỳ (Cochinchine), Bắc Kỳ (Tonkin) và Trung Kỳ (Annam). Sau Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 và việc Pháp hoàn tất việc chiếm toàn bộ Nam Kỳ vào năm 1867, Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp. Đến năm 1884, Bắc Kỳ và Trung Kỳ chính thức đặt dưới chế độ bảo hộ của Pháp.
Khác biệt về quy chế pháp lý này đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phổ biến tiếng Pháp tại nơi đây. "Tại các xứ bảo hộ bấy giờ, chính quyền Pháp không trực tiếp điều hành nên những nỗ lực Pháp hóa cũng ít mạnh mẽ hơn", Sara Legrandjacques, tiến sĩ lịch sử đương đại tại Đại học Paris Panthéon-Sorbonne cho biết.
Chi tiết lịch sử này cũng phần nào lý giải vì sao vua Hàm Nghi chỉ học tiếng Pháp một cách bài bản sau khi bị lưu đày sang Algeria năm 1889. Trong những năm sống lưu vong, ông mới có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ này.
Giáo dục – "con ngựa thành Troy" của chính sách thuộc địa
Chính thông qua hệ thống giáo dục, Pháp đã theo đuổi nỗ lực lâu dài nhất nhằm phổ biến tiếng Pháp. Sắc lệnh ngày 16/5/1906, quy định việc thành lập Trường Đại học Đông Dương đầu tiên tại Hà Nội, đã đưa môn tiếng Pháp trở thành môn học bắt buộc đối với toàn bộ sinh viên.
Trong bài nghiên cứu "Délier la langue ? Enseignement supérieur et enjeux linguistiques en Indochine française dans la première moitié du XXe siècle" (tạm dịch: Tháo gỡ rào cản ngôn ngữ? Giáo dục đại học và những vấn đề ngôn ngữ ở Đông Dương thuộc Pháp trong nửa đầu thế kỷ XX), đăng trên tạp chí Relations internationales năm 2021, nhà nghiên cứu Sara Legrandjacques cho rằng văn bản mang tính nền tảng này đánh dấu bước ngoặt của hệ thống giáo dục thuộc địa. Từ đây, tiếng Pháp – ngôn ngữ của bộ máy hành chính – trở thành điều kiện tiên quyết để tiếp cận tri thức.
Thời bấy giờ. ngôn ngữ bản địa vẫn được chấp nhận ở bậc tiểu học Tuy nhiên, "ngay khi rời bậc tiểu học, tiếng Pháp gần như là bắt buộc. Đây là công cụ để người Pháp kiểm soát người bản xứ, đồng thời hạn chế họ tiếp cận những vị trí mà người Pháp muốn dành riêng cho mình - bà Legrandjacques cho biết - và cho dù người bản địa có thành thạo tiếng Pháp, họ vẫn khó có thể vượt qua những rào cản vô hình trong hệ thống thuộc địa”.
Năm 1885, "Phái đoàn Campuchia" đã đưa 13 thanh niên Campuchia sang Paris để "làm quen với phong tục tập quán nước Pháp", đồng thời học tiếng Pháp nhằm phục vụ bộ máy hành chính thuộc địa. Cùng mục tiêu đó, Trường Y Hà Nội, thành lập năm 1902, đào tạo đội ngũ trợ lý y khoa phục vụ các bác sĩ châu Âu. Các trường đào tạo luật, công chính hay bưu chính viễn thông cũng quy định số giờ học tiếng Pháp bắt buộc hằng tuần, nhằm đào tạo “một đội ngũ nhân lực phục vụ chính quyền thực dân”. Đó có thể xem là một hình thức “quyền lực mềm” từ rất sớm, trước cả khi khái niệm này ra đời.
"Sô cô la", "cà phê", "ô tô"... Những dấu ấn tiếng Pháp còn hiện diện trong tiếng Việt
Dù sự hiện diện về chính trị của nước Pháp đã chấm dứt cùng quá trình phi thực dân hóa, ngôn ngữ Pháp vẫn để lại những dấu ấn sâu đậm trong đời sống hằng ngày của người Việt.
Ông Hoàng Văn Dương, hướng dẫn viên du lịch nói tiếng Pháp tại Hà Nội, chia sẻ với Le Figaro: "Chiếc ba lô trong tiếng Việt bắt nguồn từ từ “ballot” trong tiếng Pháp. Hay ghi đông cũng xuất phát từ “guidon”. Chúng tôi sử dụng rất nhiều từ gốc Pháp mà hầu như không nhận ra."
Nhà nghiên cứu Sara Legrandjacques cũng đưa ra nhiều ví dụ khác như: nhà ga (gare), ô tô (automobile), sô cô la (chocolat). Đây đều là những từ vựng đi cùng các sản phẩm và khái niệm được người Pháp du nhập vào Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa.
Khó có thể thống kê chính xác có bao nhiêu từ tiếng Việt có nguồn gốc tiếng Pháp, nhưng danh sách này khá dài. Có thể kể thêm các ví dụ như bê tông (béton), ăng-ten (antenne), cà phê (café), xà phòng (savon), cùi dìa (cuillère). Đối với nhiều vật dụng và khái niệm mới khi đó, tiếng Việt chưa có từ tương ứng nên người ta đã vay mượn trực tiếp từ tiếng Pháp rồi dần Việt hóa cách phát âm.
Không chỉ tồn tại trong ngôn ngữ, dấu vết của tiếng Pháp vẫn hiện diện tại nhiều thành phố lớn. Tại TP. Hồ Chí Minh, đường Pasteur vẫn giữ nguyên tên gọi, trở thành một ngoại lệ đáng chú ý giữa hàng chục tuyến đường từng mang tên các nhân vật thời thuộc địa nhưng đã được đổi tên sau ngày đất nước Việt Nam giành độc lập. "Tất cả những con đường từng mang tên các quan chức thuộc địa đều đã biến mất", bà Sara Legrandjacques cho biết. Thế nhưng, trong lĩnh vực thương mại, tiếng Pháp vẫn được xem là biểu tượng của sự tinh tế và chất lượng. Những biển hiệu như "Pâtisserie Bonjour", "Parfumerie Paris"... vẫn xuất hiện tại nhiều nơi. Trong trường hợp này, tiếng Pháp không còn đóng vai trò là ngôn ngữ giao tiếp mà trở thành một công cụ marketing, gợi liên tưởng đến sự sang trọng, ẩm thực cao cấp và phong cách châu Âu.
Tiếng Pháp ngày nay: sự hồi sinh còn khiêm tốn
Thế nhưng, trong đời sống xã hội, tiếng Pháp ngày nay hầu như không còn được sử dụng. Việc sử dụng ngôn ngữ này suy giảm mạnh sau năm 1975, khi tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức của đất nước thống nhất và là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trong chương trình giáo dục phổ thông.
“Hiện chỉ còn một số ít người cao tuổi còn nói tiếng Pháp”, nhà nghiên cứu Sara Legrandjacques cho biết. Bà thuật lại việc một cụ ông ở Hà Nội từng rất vui mừng vì cuối cùng cũng có dịp trò chuyện với bà bằng thứ ngôn ngữ mà ông đã không sử dụng suốt nhiều năm.
Lan Nguyen, người sáng lập Nhà sách InBook tại Hà Nội, cho biết trong khoảng mười năm qua, phần lớn khách hàng nói tiếng Pháp của bà là “những người trẻ quan tâm đến việc học và sử dụng tiếng Pháp”. Khi mở nhà sách ngoại văn vào cuối năm 2016, bà khởi đầu với sách tiếng Anh - ngôn ngữ phổ biến mà hầu như ai cũng muốn học. Rất ít người Việt tìm đến InBook đơn thuần vì muốn đọc sách tiếng Pháp; đại đa số vẫn lựa chọn sách tiếng Anh.
Mảng sách tiếng Pháp chỉ được InBook phát triển hơn một năm sau đó, theo định hướng của bà Lan Nguyen, người từng có thời gian học tập tại Pháp. Hiện nay, sách tiếng Pháp chiếm khoảng 15 - 20% tổng số đầu sách của nhà sách. Khách hàng của InBook là ai? Khoảng 30–40% là người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam, tìm mua sách bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Bên cạnh đó, theo bà Lan Nguyen, ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam đến mua sách để học tiếng Pháp, với mục tiêu sang Pháp du học.
Sự khởi sắc khiêm tốn này có được, một phần nhờ những nỗ lực đầu tư bền bỉ của Pháp vào lĩnh vực văn hóa và giáo dục: từ các lớp học song ngữ, chương trình học bổng dành cho sinh viên Việt Nam đến các khoản hỗ trợ của Trung tâm Sách Quốc gia Pháp (Centre national du livre) dành cho các nhà sách tiếng Pháp ở nước ngoài…“Ảnh hưởng ấy không tự nhiên mà có. Bản thân tôi may mắn nhận được học bổng để sang Pháp học tập. Khi trở về Việt Nam, điều đầu tiên tôi muốn làm là quảng bá sách tiếng Pháp. Cuối cùng, những khoản đầu tư ấy đều mang lại kết quả”, bà Lan Nguyen tâm sự.
Về phần mình, ông Hoàng Văn Duong cho biết ông chọn học tiếng Pháp từ khi còn trẻ vì một lý do thực tế hơn: Tổng thống François Mitterrand khi đó đã thiết lập chương trình học bổng dành cho các sinh viên Việt Nam theo học tiếng Pháp. “Có thể nói chính nhờ ông Mitterrand mà tôi biết nói tiếng Pháp”, ông cười chia sẻ về mối nhân duyên này.
Biên dịch từ bài viết đăng trên thời báo Figaro, số ngày 10/05/2026

Kiểm tra đơn hàng