Công nghệ sao chép có đang “giết chết” nghệ thuật?

Công nghệ sao chép có đang “giết chết” nghệ thuật?

Công nghệ sao chép có đang “giết chết” nghệ thuật?

Trích dịch 4 phần: Foreword (Lời nói đầu), I, II, III trong cuốn The Work of Art in the Age of Mechanical Reproduction - Walter Benjamin.


Lời nói đầu (Foreword)


Khi Marx bắt tay vào phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa điều ấy mới chỉ đang ở giai đoạn phôi thai. Nhưng giờ đây, con đường Marx đi, định hướng những phân tích đó như thuật tiên tri vẫn còn giá trị đến thời hiện đại. Nhìn lại những điều kiện cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ông cho rằng chủ nghĩa tư bản không chỉ có khả năng bóc lột giai cấp vô sản ngày càng trầm trọng mà hoàn toàn có thể tạo ra những điều kiện để tự xóa bỏ chính mình.


Hơn nửa thế kỷ qua, ta đã nhìn nhận rõ quy trình biến đổi của thượng tầng kiến trúc vốn diễn ra chậm hơn nhiều so với hình thái biến đổi của hạ tầng cơ sở. Những gì chúng ta biết sẽ được đáp ứng không phải bởi các mệnh đề liên quan đến nghệ thuật của giai cấp vô sản sau khi giành được chính quyền (chứ chưa nói đến nghệ thuật của một xã hội không giai cấp), mà bởi các mệnh đề liên quan đến xu hướng phát triển của nghệ thuật dưới các điều kiện sản xuất hiện tại. Tính biện chứng của các mệnh đề đó biểu hiện rõ ràng ở thượng tầng kiến trúc không kém gì ở nền kinh tế. Do đó, sẽ là sai lầm nếu đánh giá thấp giá trị chiến đấu của các mệnh đề như vậy.


Chúng loại bỏ một số khái niệm truyền thống chẳng hạn như tính sáng tạo và thiên tài, giá trị vĩnh cửu và bí ẩn – những khái niệm mà việc áp dụng một cách vô tội vạ (và vào lúc này là hầu như không thể kiểm soát) sẽ dẫn đến việc xử lý các dữ kiện thực tế theo đường lối của Chủ nghĩa Phát xít. Các khái niệm sau đây, lần đầu tiên được đưa vào lý thuyết nghệ thuật ở đây, khác biệt với những khái niệm quen thuộc ở chỗ chúng hoàn toàn vô dụng cho các mục đích của Chủ nghĩa Phát xít. Mặt khác, chúng có thể được sử dụng để đưa ra các yêu cầu mang tính cách mạng trong chính trị nghệ thuật.


I. Lịch sử của sự tái sản xuất kỹ thuật


Về nguyên tắc, tác phẩm nghệ thuật luôn có thể được tái sản xuất. Những gì con người làm ra, con người luôn có thể làm lại. Việc sao chép như vậy cũng từng được thực hiện bởi các học trò như một bài thực hành nghệ thuật, bởi các bậc thầy để giúp tác phẩm được lưu hành rộng rãi hơn, và cuối cùng, bởi bất kỳ ai tìm cách kiếm tiền.


Tuy nhiên, tái sản xuất kỹ thuật của một tác phẩm nghệ thuật lại là điều hoàn toàn khác biệt, đã được thực hiện gián đoạn trong suốt lịch sử ở những khoảng thời gian xa nhau nhưng với cường độ ngày càng tăng. Người Hy Lạp chỉ có hai quy trình để tái sản xuất các tác phẩm nghệ thuật bằng kỹ thuật: đúc và dập nổi. Đồ đồng, đồ đất nung và tiền xu là những tác phẩm nghệ thuật duy nhất mà họ có thể sản xuất với số lượng lớn. Tất cả những thứ còn lại đều là độc bản và không thể tái sản xuất bằng các phương tiện kỹ thuật.


Chính kỹ thuật khắc gỗ đã lần đầu tiên khiến nghệ thuật đồ họa có thể tái sản xuất bằng kỹ thuật; các bản vẽ có thể được tái sản xuất từ rất lâu trước khi ngành in ấn làm điều tương tự cho chữ viết. Những thay đổi khổng lồ mà ngành in ấn mang lại cho văn học thì ai cũng đã biết. Tuy nhiên, xét trên quy mô lịch sử, hiện tượng đó chỉ là một trường hợp riêng biệt (dù tất nhiên là một trường hợp đặc biệt quan trọng) của hiện tượng mà chúng ta đang xem xét ở đây. Trong tiến trình của thời Trung Cổ, kỹ thuật khắc gỗ đã được tiếp nối bởi kỹ thuật khắc trục đồng (copperplate engraving) và khắc axit (etching), sau đó vào đầu thế kỷ XIX là kỹ thuật in thạch bản (lithography).


Với in thạch bản, công nghệ tái sản xuất đã đạt đến một giai đoạn hoàn toàn mới. Quy trình nhanh chóng hơn rất nhiều qua việc vẽ trực tiếp lên một phiến đá thay vì đục đẽo vào một khối gỗ hay khắc axit lên một tấm đồng, kỹ thuật này giúp các ấn phẩm đồ họa đưa ra thị trường với số lượng lớn và đa dạng mẫu mã. In thạch bản giúp nghệ thuật đồ họa có thể đồng hành cùng cuộc sống thường nhật bằng các hình ảnh, bắt đầu giữ nhịp cùng với ngành in ấn.


Tuy nhiên, tốc độ ra đời một ấn phẩm nghệ thuật của in thạch bản đã bị vượt mặt bởi nhiếp ảnh chỉ vài thập kỷ sau đó. Với nhiếp ảnh, trong quy trình tái sản xuất hình ảnh, bàn tay lần đầu tiên được giải phóng khỏi các trách nhiệm nghệ thuật chính yếu mà chuyển dần qua con mắt khi nhìn vào ống kính. Vì mắt nhận biết nhanh hơn tay vẽ, quy trình tái sản xuất hình ảnh được đẩy nhanh đến chóng mặt đến mức nó có thể bắt kịp tốc độ của lời nói. Người vận hành máy quay phim trong trường quay bắt trọn các hình ảnh nhanh như tốc độ người diễn viên nói. Nếu như ở in thạch bản, cuốn tạp chí tranh ảnh đã hiện diện về mặt bản chất, thì ở nhiếp ảnh, đó chính là phim có âm thanh.


Tái sản xuất kỹ thuật đối với âm thanh đã tìm ra giải pháp vào khoảng cuối thế kỷ mười chín. Điều này như đã dự đoán trước một tình huống mà Paul Valéry từng mô tả trong câu: "Ngày xưa, muốn có điện, nước, ga thì phải tốn công kéo từ xa về nhà, nhưng bây giờ chỉ cần vặn vòi hay bật công tắc là có sẵn để dùng. Sau này âm thanh và hình ảnh cũng sẽ như vậy: chỉ cần bấm nút hay gạt nhẹ màn hình là chúng hiện ra ngay lập tức, khi không dùng nữa thì tắt đi là xong." Đến khoảng năm 1900, công nghệ sao chép (hình ảnh, âm thanh) đã phát triển mạnh đến mức thâu tóm toàn bộ các tác phẩm nghệ thuật truyền thống và làm đảo lộn hoàn toàn cách chúng ta thưởng thức chúng. Không dừng lại ở đó, công nghệ này còn tự dành cho mình một vị trí độc lập như một phương thức sáng tạo nghệ thuật mới. Để thấy rõ sức mạnh của bước tiến này, không gì rõ hơn việc quan sát cách mà hai “đứa con song sinh” của nó - công nghệ sao chép tác phẩm cũ và nghệ thuật điện ảnh mới đang tác động ngược trở lại để phá vỡ các hình thái nghệ thuật truyền thống.


II. Bản gốc và sự suy tàn của "Hào quang" (Aura)


Dù một bản sao có hoàn hảo đến mức nào đi nữa thì chúng sẽ không bao giờ có được yếu tố quan trọng nhất: đó là tính hiện tiền, là sự tồn tại độc nhất vô nhị của tác phẩm gốc tại một không gian và thời gian cố định. Chính sự tồn tại duy nhất này mới là nơi lưu dấu toàn bộ lịch sử mà tác phẩm đã trải qua: từ những vết hằn vật chất của năm tháng (chỉ có thể tìm ra bằng phân tích hóa-lý trên bản gốc) cho đến hành trình thay đổi quyền sở hữu qua các thời kỳ. Tất cả những điều đó kết tinh thành tính chân thực của tác phẩm, một giá trị hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của mọi công nghệ sao chép.


Cái ở đây và ngay bây giờ của bản gốc cấu thành nên ý niệm trừu tượng về tính chân thực. Các phân tích mang tính chất hóa học được thực hiện trên lớp gỉ (patina) của một bức tượng đồng có thể giúp xác định tuổi đời của một tác phẩm; tương tự như vậy, bằng chứng cho thấy một bản thảo thời trung cổ cụ thể bắt nguồn từ một kho lưu trữ của thế kỷ mười lăm có thể giúp xác định tính chân thực, và điều này hoàn toàn nằm ngoài khả năng tái sản xuất kỹ thuật (và dĩ nhiên không chỉ là tái sản xuất kỹ thuật).


Tuy nhiên, có một điểm khác biệt rất lớn giữa sao chép thủ công và sao chép bằng công nghệ. Với một bản sao bằng tay, người ta sẽ coi đó là đồ giả và tác phẩm gốc vẫn giữ nguyên uy quyền tuyệt đối của mình. Nhưng với bản sao bằng kỹ thuật, uy quyền đó lại bị lung lay bởi hai lý do:


Thứ nhất, bản sao kỹ thuật có tính tự chủ cao hơn. Nhiếp ảnh có thể chọn những góc nhìn tùy ý, phóng to hay quay chậm để phơi bày những chi tiết tinh vi của bản gốc mà mắt người khi nhìn trực tiếp hoàn toàn bất lực.
 

Thứ hai, kỹ thuật công nghệ có thể đưa bản sao vào những không gian mà bản gốc tự thân không bao giờ tới được. Nó kéo tác phẩm nghệ thuật lại gần hơn với cuộc sống thường nhật: một ngôi nhà thờ đồ sộ có thể xuất hiện thu nhỏ trên bàn làm việc của một người yêu tranh, hay một buổi hòa nhạc ngoài trời giờ đây có thể vang lên trọn vẹn trong một căn phòng ngủ chật hẹp.


Ngay cả khi công nghệ sao chép không trực tiếp làm hư hại đến sự tồn tại vật chất của tác phẩm gốc, nó vẫn làm giảm sút giá trị tính hiện tiền (cái ở đây và ngay bây giờ) của tác phẩm đó. Hiện tượng này tổn hại nghiêm trọng đến một phần cốt lõi vô cùng nhạy cảm mà không một đối tượng tự nhiên nào có được: đó chính là tính chân thực.


Tính chân thực của một sự vật chính là sự kết tinh của tất cả những gì có thể lưu truyền lại kể từ khi nó được tạo ra - từ độ bền vững vật chất cho đến giá trị làm chứng nhân lịch sử mà nó mang tải. Mà giá trị chứng nhân lịch sử vốn lại bám rễ sâu vào tuổi thọ vật chất của vật đó. Chính vì vậy, khi bản sao công nghệ tước đi sự hiện diện vật chất của bản gốc trước nhận thức của con người, giá trị làm chứng nhân lịch sử cũng bắt đầu lung lay, và thứ thực sự sụp đổ theo đó chính là uy quyền tinh thần tự thân của sự vật.


Hiện tượng nổi bật này có thể được cô đọng bằng thuật ngữ “hào quang” (aura). Có thể nói: trong thời đại sao chép bằng máy móc, thứ bị co cụm và biến mất chính là hào quang của tác phẩm nghệ thuật. Hiện tượng này không chỉ gói gọn trong nghệ thuật, mà là triệu chứng cho những biến động lớn lao hơn của xã hội.


Nhìn một cách tổng quát, công nghệ sao chép đã bóc tách sự vật ra khỏi dòng chảy truyền thống. Bằng cách nhân bản tác phẩm thành vô số bản sao, nó thay thế sự hiện diện độc nhất bằng một sự xuất hiện đại chúng. Đồng thời, bằng cách đưa bản sao đến tận tay người tiếp nhận trong mọi hoàn cảnh, công nghệ đã thời sự hóa vật được sao chép.


Hai quy trình này tạo nên một cuộc đảo lộn dữ dội đối với những di sản được truyền lại, một cuộc khủng hoảng truyền thống nảy sinh, và đây cũng chính là mặt bên kia của cuộc khủng hoảng lẫn sự đổi mới của nhân loại ngày nay. Chúng gắn bó mật thiết với các phong trào đại chúng đương thời, mà công cụ mạnh mẽ nhất chính là điện ảnh. Ý nghĩa xã hội lớn nhất của điện ảnh chính là mặt mang tính hủy diệt và giải phóng này: nó triệt tiêu hoàn toàn các giá trị sùng bái truyền thống trong di sản văn hóa. Hiện tượng này rõ nhất trong các bộ phim sử thi hoành tráng. Khi Abel Gance hào hứng tuyên bố vào năm 1927 rằng tất cả các vĩ nhân như Shakespeare, Rembrandt, Beethoven, cho đến các thần thoại và tôn giáo cổ xưa đều đang chờ đợi được “phục sinh” trên màn ảnh, ông đã vô tình đưa ra lời dự báo về một cuộc triệt tiêu toàn diện các giá trị cũ kỹ này: “Shakespeare, Rembrandt, Beethoven sẽ làm phim [...] Tất cả các truyền thuyết, tất cả các thần thoại và mọi huyền thoại, tất cả những người sáng lập tôn giáo - thực sự là tất cả các tôn giáo [...] đều chờ đợi sự phục sinh bằng phim ảnh của họ, và các anh hùng đang chen lấn ở các cổng.”


III. Sự thay đổi trong nhận thức của đại chúng

 

Trong những bước chuyển lớn của lịch sử, song song với những thay đổi trong lối sống của xã hội, cách thức con người cảm nhận thế giới cũng biến chuyển theo. Rõ ràng, các giác quan và cách nhận thức của chúng ta không chỉ do tự nhiên quy định, mà do chính lịch sử nhào nặn.


Chẳng hạn như vào thời kỳ di cư của các dân tộc - thời đại sản sinh ra nền nghệ thuật hậu La Mã - con người không chỉ tạo ra một nền nghệ thuật mới mà cách họ nhìn nhận thế giới cũng hoàn toàn khác biệt so với thời cổ đại. Các học giả thuộc Trường phái Vienna như Riegl và Wickhoff là những người đầu tiên nhận ra điều này. Họ đã lật mở lớp bụi thời gian để chứng minh rằng nhận thức của con người được tổ chức lại theo từng thời đại. Tuy nhiên, phát hiện của họ vẫn có hạn chế và mới chỉ mô tả được hình thái bên ngoài của nhận thức, chứ chưa chỉ ra được những biến động xã hội nào đã thúc đẩy sự thay đổi đó.


Ngày nay, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để nhìn thấu quy luật này. Nếu coi sự biến chuyển nhận thức trong thời đại chúng ta là sự nhạt nhòa của “hào quang”, ta hoàn toàn có thể chứng minh được các nguyên nhân xã hội đứng sau nó.


Để hiểu rõ khái niệm “hào quang” trong lịch sử, hãy lấy một ví dụ từ thế giới tự nhiên. Hào quang tự nhiên chính là sự biểu hiện duy nhất của một khoảng cách, dù vật đó có thể đang ở rất gần ta. Hãy tưởng tượng vào một buổi chiều mùa hè, bạn nằm nghỉ ngơi và hướng mắt về dãy núi nơi đường chân trời, hoặc dõi theo một cành cây đang đổ bóng xuống cơ thể mình, khoảnh khắc bạn cảm nhận được sự xa xăm, tĩnh lặng và thiêng liêng đó chính là lúc bạn đang hít thở vào cái hào quang của ngọn núi, của cành cây ấy.


Nhìn từ góc độ này, ta sẽ thấy sự tan rã của hào quang trong xã hội hiện đại phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện xã hội đến mức nào. Sự nhạt nhòa đó bắt nguồn từ hai khát khao mãnh liệt của đám đông ngày nay: một là nhu cầu 'kéo vạn vật lại gần hơn' cả về không gian lẫn khoảng cách con người; hai là xu hướng muốn phá vỡ tính độc nhất của mọi sự vật bằng cách biến chúng thành các bản sao kỹ thuật.


Mỗi ngày, chúng ta đều thấy người ta thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh sự vật ở cự ly cực gần thông qua phim ảnh, báo chí. Nhưng có một sự khác biệt không thể nhầm lẫn giữa một bức ảnh gốc và một bản sao. Ở bức ảnh gốc, tính độc nhất và tính lâu bền bện chặt vào nhau; còn ở bản sao kỹ thuật, đó lại là sự kết hợp giữa tính nhất thời và tính lặp lại.


Hành vi tước đoạt lớp vỏ bọc của đối tượng, hay nói cách khác là việc đập tan hào quang, là minh chứng cho một kiểu nhận thức hoàn toàn mới. Đó là kiểu nhận thức mà cảm quan về “sự tương đồng” đã phát triển mạnh đến mức, thông qua công nghệ sao chép, con người muốn tìm ra sự giống nhau ở ngay cả những sự vật, sự kiện chỉ xảy ra một lần duy nhất trong đời. Hiện tượng này trong lĩnh vực thị giác cũng tương tự như sự lên ngôi của số liệu thống kê trong lĩnh vực lý thuyết. Việc thực tại bị đại chúng hóa, và đại chúng hóa thực tại là một quy trình mang lại những hệ quả vô hạn, làm thay đổi tận gốc không chỉ tư duy mà cả cách chúng ta nhìn nhận thế giới xung quanh.

 

Người dịch: Phương Thảo 
Ảnh: NewMediaArtBaruch

 

Đang xem: Công nghệ sao chép có đang “giết chết” nghệ thuật?

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
Giỏ Hàng