Khai từ của tập truyện “Ghost stories” - Edith Wharton
"Quý vị có tin ma không?" là một câu hỏi vô bổ mà những kẻ vốn dĩ không có khả năng cảm thụ những luồng ảnh hưởng u linh thường hay đặt ra cho - tôi không muốn nói là những kẻ thấy ma, vốn là hạng người hiếm, mà là những kẻ "cảm" được ma, những người nhạy bén với những dòng sinh mệnh vô hình cuộn chảy tại những địa điểm nhất định và vào những giờ khắc nhất định.
Câu trả lời nổi tiếng (quên khuấy là của ai): "Không, ma miếc thì tôi không tin, nhưng tôi sợ," thực chất mang hàm ý sâu xa hơn nhiều so với cái vẻ nghịch lý rẻ tiền mà nó phô ra. Việc "tin", theo nghĩa ấy, là một tỉnh táo của lý trí, thế nhưng, chính trong cái bóng tối nồng ấm của lớp dịch bào nguyên sơ, nằm sâu bên dưới lý trí tỉnh thức của ta, mới là nơi ngụ trị của cái giác quan giúp ta thấu cảm được những hồn ma mà có lẽ ta chẳng được ban cho cái huệ nhãn để nhìn thấy. Điều này đã được chứng minh một cách kỳ lạ mới đây qua tập truyện ma được con trai của cố Huân tước Halifax sưu tập từ những ghi chép của cha mình. Trong tâm khảm của người sưu tầm, giá trị của mỗi câu chuyện không hề nằm ở sự lôi cuốn tự thân của nó, mà ở việc có ai đó sẵn lòng đứng ra bảo chứng cho tính xác thực của giai thoại ấy. Dẫu câu chuyện có tẻ nhạt, thiếu sáng tạo hay tầm thường đến đâu - chỉ cần có ai đó thuyết phục được cố Huân tước Halifax rằng nó "có thật", rằng nó "đã thực sự xảy ra", là nó được đưa vào tập sách, và liệu có phải chỉ là ngẫu nhiên khi câu chuyện duy nhất trong bộ sưu tập đồ sộ này có chút gì đó ấn tượng và đáng nhớ lại chính là câu chuyện kèm theo lời chú giải tạ lỗi rằng người biên tập đã không thể truy tìm được nguồn gốc của nó?
Thực ra, nguồn gốc không phải là thứ người ta cần khi thẩm định một truyện ma. Những truyện hay tự thân nó đã mang theo những bằng chứng nội tại về cái khí vị liêu trai, và chẳng cần thêm bất cứ chứng cứ nào khác. Nhưng kể từ khi tôi bắt đầu dấn thân vào việc sáng tạo những truyện ma, tôi đã có một phát hiện đáng buồn rằng cái khả năng cần thiết để thưởng thức chúng gần như đã bị thối chí nơi con người hiện đại. Chẳng ai kỳ vọng một người thuộc gốc Latinh có thể hiểu hay rùng mình trước một hồn ma, để làm được điều đó, trong tai người ta hẳn phải còn vang vọng khúc nhạc khàn đục của những cánh rừng già phương Bắc hay tiếng gầm gào của những vùng biển tối tăm nơi bờ cõi xa xôi nhất. Nhưng khi tôi mới bắt đầu đọc, và rồi viết những truyện ma, tôi đã ý thức được một môi trường chung giữa mình và độc giả, nơi họ gặp tôi ở lưng chừng những bóng tối nguyên thủy, và lấp đầy những khoảng trống trong lời kể của tôi bằng những cảm giác và linh cảm tương đồng với chính tôi.
Tôi đã thấy một minh chứng kỳ lạ về sự thay đổi này khi cách đây hai ba năm, một trong những câu chuyện trong tập này lần đầu ra mắt trên một tạp chí Mỹ. Tôi tin rằng hầu hết những người cung cấp hư cấu sẽ đồng ý với tôi rằng những độc giả thường trút lên tác giả của những cuốn sách đã xuất bản những dòng mực thẩm vấn dạt dào, lại chẳng mấy bận tâm đến một truyện ngắn lẻ loi trên tạp chí. Những yêu cầu tác giả tiết lộ càng nhiều chi tiết càng tốt về đời tư hiếm khi được gửi đến cho đến khi những sản phẩm rải rác của ngòi bút họ được thu thập thành một tuyển tập. Thế nhưng khi "Hạt lựu" (mà tôi hy vọng quý vị sắp sửa đọc đây) lần đầu xuất hiện trên tạp chí, tôi đã bị oanh tạc bởi một đoàn quân những người chất vấn, trước hết là muốn biết ý nghĩa tựa đề của câu chuyện (vào cái thời kỳ tăm tối của tuổi thơ tôi, việc am hiểu thần thoại cổ điển là một phần kho tàng tri thức đương nhiên như truyện Grimm hay Andersen vậy), và thứ hai là để được nghe giải thích làm thế nào một hồn ma lại có thể viết thư, hay bỏ thư vào hòm thư. Những vấn đề này đã gây ra bao đêm mất ngủ cho nhiều người gửi thư, những người mà cái tên dường như cho thấy họ là những kẻ mới đến từ những vùng đất chưa từng bị ám ảnh. Tôi có cần phải nói thêm rằng tuyệt nhiên chẳng có một chữ ký người xứ Wales hay Scotland nào trong số họ không? Nhưng có lẽ trong vài năm nữa sẽ có, bởi lẽ, dù bản năng tâm linh ẩn nấp sâu thẳm trong ta, tôi dường như thấy nó đang dần bị thoái hóa bởi hai kẻ thù toàn cầu của trí tưởng tượng: vô tuyến điện và điện ảnh. Đối với một thế hệ mà mọi thứ vốn dùng để nuôi dưỡng trí tưởng tượng - bởi chúng phải được giành lấy bằng nỗ lực, và rồi được tiêu hóa chậm rãi - giờ đây lại được dọn ra dưới dạng đã nấu chín, nêm nếm và băm nhỏ thành từng mẩu vụn, thì khả năng sáng tạo (bởi đọc cũng phải là một hành vi sáng tạo như viết vậy) đang héo mòn nhanh chóng, cùng với khả năng duy trì sự chú ý, và cái thế giới vốn từng rực rỡ dưới ánh đèn dầu nay đang thu nhỏ lại tỉ lệ nghịch với những phương tiện mới để băng qua nó, sao cho ta càng bồi đắp thêm bề mặt của nó bao nhiêu thì nó lại càng trở nên nhỏ hẹp bấy nhiêu.
Tất cả những điều này thật đáng buồn cho người cung cấp truyện ma và nhà xuất bản của ông ta, nhưng bất chấp những ảnh hưởng bất lợi và sức hút đối chọi từ những kẻ băng đảng, những kẻ nội tâm hay những tên nghiện rượu kinh niên, hồn ma có lẽ vẫn còn giữ được vị thế của mình thêm chút ít dưới bàn tay của một biên niên sử gia lão luyện. Điều đáng sợ nhất là những kẻ thấu thị này có thể thất bại, bởi lẽ cây trượng của kẻ triệu hồn còn mong manh hơn cả hồn ma, và dễ dàng bị bẻ gãy trong cái guồng quay nghiền nát của tốc độ hiện đại. Những hồn ma, để hiển hiện, cần có hai điều kiện mà tâm trí hiện đại vốn ghét cay ghét đắng: sự tĩnh lặng và tính liên tục. Ông Osbert Sitwell mới đây có bảo chúng ta rằng hồn ma đã ra đi khi điện năng xuất hiện, nhưng chắc chắn đó là một sự hiểu lầm về bản chất của cõi âm u. Thứ xua đuổi hồn ma không phải là cây tùng cảnh hay chiếc bếp điện, tôi có thể hình dung ra cảnh chúng lưu luyến ám ảnh một ngôi nhà tồi tàn trên một con phố tẻ nhạt hơn là tòa lâu đài có tường thành với những đạo cụ sân khấu chán ngắt. Thứ mà hồn ma thực sự cần không phải là những hành lang vang vọng và những cánh cửa ẩn sau tấm thảm thêu, mà chỉ là tính liên tục và sự tĩnh lặng. Bởi nơi nào một hồn ma đã từng xuất hiện, nó dường như khao khát được xuất hiện trở lại, và rõ ràng nó ưa thích những giờ khắc lặng lẽ, khi cuối cùng tiếng nhạc jazz từ chiếc vô tuyến đã im bặt. Những giờ khắc ấy, vốn được gọi một cách tiên tri là "nhỏ nhoi", thực tế đang không ngừng trở nên nhỏ bé hơn, và ngay cả khi một vài kẻ piner (người tìm mạch) vẫn giữ được cây trượng của mình, hồn ma dù sao cũng có thể gục ngã trước sự bất khả của việc tìm lấy một chỗ đứng trong một vũ trụ gầm vang và đứt đoạn.
Thật là một sự cám dỗ khi nghĩ về những gì ta sẽ mất đi khi linh hồn và bóng ma không còn ở bên ta nữa, nhưng mục đích của tôi ở đây là để tôn vinh những người đã làm cho chúng trở nên hữu hình đối với chúng ta. Bởi lẽ hồn ma không bao giờ được phép quên rằng cơ hội sống sót duy nhất của mình nằm ở lời kể của những kẻ đã chạm trán với mình, dù là thực sự hay trong tưởng tượng - và có lẽ cái sau lại đáng quý hơn. May mắn cho một hồn ma khi được tưởng tượng một cách sống động hơn là được "trải nghiệm" một cách tẻ nhạt, và không ai hiểu rõ hơn một hồn ma rằng việc đưa anh ta hay cô ta vào những câu từ vừa mờ ảo lại vừa trong suốt là khó khăn đến nhường nào.
Thực tế, viết một truyện ma không phải chuyện dễ dàng, và khi rụt rè dâng lên những nỗ lực này của mình, tôi muốn đặt chúng dưới sự bảo trợ của những người đầu tiên đã kích thích tôi thực hiện thử nghiệm này. Người sớm nhất, tôi tin là Stevenson, với "Thrawn Janet" và "Markheim", hai truyện ma xuất sắc, dù còn xa mới đạt tới tầm vóc của những bậc phù thủy như Sheridan Le Fanu và Fitz James O'Brien. Tôi nghi ngờ liệu những người này đã bao giờ bị vượt qua chưa, mặc dù nỗ lực đơn lẻ của Marion Crawford, "The Upper Berth", đã tiến rất gần đến cái nỗi kinh hoàng bò trườn của "What Is It?" của O'Brien.
Về việc xử lý cái siêu nhiên bằng trí tưởng tượng, theo ý tôi, không ai có thể chạm đến Henry James trong "The Turn of the Screw", nhưng tôi cho rằng một tiểu thuyết ma khó lòng được xếp vào hàng truyện ma, và đặc biệt là câu chuyện ấy quá cá biệt, quá khác biệt so với bất kỳ nỗ lực nào khác nhằm nắm bắt cái cảm thức về siêu nhiên để có thể bị ép vào các hạng mục thông thường.
Về phần hiện nay, tôi đã mạo hiểm đặt "chuyến xe buýt" khiêm nhường của riêng mình dưới sự bảo trợ đặc biệt của người triệu hồn hiện đại duy nhất mà tôi xếp vào hàng bậc nhất - và điều này miễn cho tôi việc phải nói lý do tại sao tôi lại đặt ông ấy ở đó. Hơn nữa, càng suy ngẫm kỹ về vấn đề này, người ta càng nhận thấy sự bất khả của việc định nghĩa hiệu ứng của cái siêu nhiên. Một quý ông vùng Boston thuộc trường phái cũ, người từng nói rằng vợ ông luôn coi việc miếng thịt cừu nên quay hay luộc là một vấn đề đạo đức, đã tóm gọn một cách rất hạnh phúc mối quan hệ của vùng Boston với vũ trụ, nhưng câu hỏi "vấn đề đạo đức" ấy không được phép can thiệp vào việc đánh giá một truyện ma. Nó phải phụ thuộc vào hiệu ứng duy nhất mà người ta có thể gọi là phẩm chất nhiệt giai của nó, nếu nó gửi một luồng rùng mình lạnh lẽo dọc sống lưng quý vị, thì nó đã hoàn thành nhiệm vụ và hoàn thành một cách xuất sắc. Nhưng không có quy tắc cố định nào về phương tiện tạo ra cái rùng mình này, và nhiều câu chuyện khiến người khác lạnh toát lại để tôi ở nhiệt độ bình thường. Vị bác sĩ nói rằng không có bệnh tật mà chỉ có bệnh nhân hẳn sẽ đồng ý rằng không có ma, mà chỉ có những người kể chuyện ma, vì cái gì tạo ra một sự rùng mình cho người này lại để người khác bình thản ấm áp. Do đó, tôi tin rằng, người ta chỉ nên kể lại những cuộc phiêu lưu liêu trai của mình bằng ngôn từ không tô vẽ nhất, và "phó mặc phần còn lại cho Tự nhiên", như vị ủy viên hội đồng New York đã nói cách đây nhiều năm khi có đề xuất nhập khẩu "một cặp thuyền gondola" cho hồ trong Công viên Trung tâm.
Gợi ý duy nhất tôi có thể đưa ra là người kể những câu chuyện siêu nhiên nên cảm thấy thực sự sợ hãi trong lúc kể, vì nếu ông ta sợ, ông ta có lẽ sẽ truyền đạt được cho độc giả cái cảm thức về một điều gì đó lạ lùng nằm ngoài triết học của Horatio.

Kiểm tra đơn hàng