Giới thiệu: Là nữ nhà văn lớn của Anh thời kỳ Thế Chiến 1, chính Virginia Woolf còn đóng góp nhiều vào lĩnh vực văn học đại chúng, trong lĩnh vực văn chương. Bà là người năng nổ viết review – theo cách ngày nay ta vẫn gọi – về các tiểu thuyết cho độc giả đại chúng, sau này trở thành hai tập sách “The Common reader” (tạm dịch: Độc giả đại chúng), rất có vai trò trong việc giới thiệu văn chương của các tiền bối truyền thống như Joseph Conrad, Henry James, Meredith… đến với tầng lớp độc giả bình dân ở Anh, Mỹ, các thị trường xuất bản ban đầu, sơ khai của ngành Công nghiệp xuất bản toàn cầu hoá. Đó cũng là một tất yếu lịch sử, đi cùng thời đại ở quãng đầu thế kỷ 20, với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, xuất bản đại chúng, các thư viện công cộng, nhật báo và phim ảnh.
Dưới đây là chapter của Woolf về hai tác phẩm của chị em nhà Bronte - Đồi gió hú (Wuthering Heights - của Emily Bronte) và Jane Eyre của Charlotte Bronte.
(Theo: Từ Linh)
JANE EYRE VÀ ĐỒI GIÓ HÚ
Virginia Woolf
Trong suốt một trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Charlotte Brontë chào đời, và, giờ đây là tâm điểm của biết bao huyền thoại, lòng sùng mộ và văn chương, thực chất chỉ sống có ba mươi chín năm. Thật kỳ lạ khi suy ngẫm xem những huyền thoại ấy hẳn đã khác biệt đến nhường nào nếu cuộc đời bà vươn tới được giới hạn tuổi thọ thông thường của kiếp nhân sinh. Bà có thể đã trở thành, giống như vài người bạn đồng thời nổi danh của mình, một bóng hình quen thuộc thường bắt gặp ở London hay những nơi chốn khác, là chủ đề của vô số những bức họa và giai thoại, là tác giả của hàng chục cuốn tiểu thuyết, hay có thể là những cuốn hồi ký, rũ bỏ cõi đời này khi vẫn còn in đậm trong ký ức của những người trung niên giữa tất thảy ánh hào quang của một danh tiếng đã được ấn định. Bà có thể đã trở nên giàu có, bà có thể đã thành công rực rỡ. Nhưng sự thể lại không như vậy. Khi nghĩ về bà, ta phải hình dung về một người chẳng hề có phần số nào trong cái thế giới hiện đại của chúng ta; ta phải ném tâm trí mình quay ngược về những năm 50 của thế kỷ trước, tới một ngôi nhà xứ đạo xa xôi nằm trên vùng đồng hoang Yorkshire heo hút. Tại ngôi nhà xứ đạo đó, và trên những dải đồng hoang đó, buồn bã và cô độc, trong nghèo khó và niềm thăng hoa của mình, bà vĩnh viễn lưu lại nơi đó.

Những hoàn cảnh này, thông qua cái cách chúng tác động lên tính cách của bà, có thể đã để lại dấu vết trên tác phẩm. Một tiểu thuyết gia, ta ngẫm nghĩ, luôn bị buộc phải xây dựng nên cấu trúc của mình bằng rất nhiều những chất liệu dễ mai một, thứ bắt đầu bằng việc mang lại cho nó tính chân thực nhưng rồi kết thúc bằng việc chất đầy lên đó những gánh nặng rác rưởi. Khi mở cuốn Jane Eyre ra một lần nữa, ta không tài nào kìm nén được sự hoài nghi rằng mình sẽ thấy thế giới tưởng tượng của bà cũng cổ lỗ sĩ, rặt chất thời trung Victoria, và lỗi thời y như cái ngôi nhà xứ đạo trên vùng đồng hoang kia, một nơi chốn chỉ để những kẻ hiếu kỳ ghé thăm, chỉ được những người mộ đạo bảo tồn. Thế rồi ta mở cuốn Jane Eyre ra; và chỉ trong vòng hai trang sách, mọi hoài nghi đều bị quét sạch bong khỏi tâm trí.
Những nếp gấp của tấm rèm đỏ thẫm che khuất tầm nhìn của tôi về phía bên phải; phía bên trái là những ô kính trong suốt, bảo vệ nhưng không ngăn cách tôi khỏi ngày tháng Mười một ảm đạm. Thỉnh thoảng, trong lúc lật giở những trang sách, tôi ngắm nhìn quang cảnh của buổi chiều đông ấy. Ở đằng xa, nó hiện ra như một khoảng không trắng nhợt nhạt của sương mù và mây xám; ở gần hơn, là cảnh tượng một bãi cỏ ướt sũng và những bụi cây bị bão vùi dập, cùng cơn mưa không ngớt đang bị cuốn đi cuồng bạo trước một luồng gió rít dài và thê lương.
Chẳng có gì ở đó dễ mục nát hơn chính cái vùng đồng hoang kia, hay dễ khuất phục trước sự xoay vần của thời thượng hơn cái "luồng gió rít dài và thê lương" ấy. Và sự phấn khích này cũng chẳng hề ngắn ngủi. Nó cuốn phăng chúng ta qua toàn bộ cuốn sách, không cho ta kịp có thời gian ngẫm nghĩ, không để ta kịp rời mắt khỏi những trang giấy. Sự chú tâm của ta mãnh liệt đến mức nếu có ai đó di chuyển trong phòng, chuyển động ấy dường như không xảy ra ở thực tại mà là ở tít trên vùng Yorkshire. Nhà văn nắm lấy tay ta, ép ta đi dọc theo con đường của bà, bắt ta phải nhìn những gì bà thấy, không bao giờ rời bỏ ta lấy một khoảnh khắc hay cho phép ta lãng quên bà. Khi kết thúc, ta bị đẫm mình trọn vẹn từ trong ra ngoài bởi thứ thiên tài, sự dữ dội, và nỗi phẫn uất của Charlotte Brontë. Những khuôn mặt phi thường, những hình dáng mang đường nét mạnh mẽ và vẻ mặt xù xì góc cạnh đã lóe lên trước mắt ta khi lướt qua; nhưng chính là qua đôi mắt của bà mà ta đã nhìn thấy họ. Một khi bà rời đi, ta tìm kiếm họ trong vô vọng. Hãy nghĩ về Rochester và ta buộc phải nghĩ về Jane Eyre. Hãy nghĩ về vùng đồng hoang, và một lần nữa, lại là Jane Eyre. Thậm chí hãy nghĩ về căn phòng khách, cái "tấm thảm trắng trên đó như được phủ lên những vòng hoa rực rỡ", cái "bệ lò sưởi bằng đá Parian nhợt nhạt" với những ly thủy tinh Bohemia màu "đỏ hồng ngọc" và "sự hòa quyện chung của tuyết và lửa" - tất cả những thứ đó là gì nếu không phải là Jane Eyre?
Những hạn chế của việc làm một Jane Eyre thì chẳng khó để tìm ra. Lúc nào cũng là một cô gia sư và lúc nào cũng đang yêu là một sự giới hạn nghiêm trọng trong một thế giới mà rốt cuộc, vốn chứa đầy những con người chẳng phải là cái này cũng chẳng phải cái kia. Các nhân vật của một Jane Austen hay của một Tolstoi có đến hàng triệu lăng kính khi đem so sánh với những nhân vật này. Họ sống động và phức tạp thông qua hệ quả mà họ tạo ra lên vô vàn những người khác nhau, những người đóng vai trò như tấm gương phản chiếu họ một cách vẹn toàn. Họ di chuyển chỗ này chỗ nọ bất kể người sáng tạo ra họ có đang theo dõi họ hay không, và thế giới mà họ sống với chúng ta dường như là một thế giới độc lập, nơi mà giờ đây khi họ đã tạo ra nó, tự thân chúng ta có thể bước vào viếng thăm. Thomas Hardy có nhiều nét gần gũi với Charlotte Brontë hơn ở sức mạnh nhân cách và sự thu hẹp trong góc nhìn. Nhưng sự khác biệt giữa họ là vô cùng to lớn. Khi đọc Jude Kẻ vô danh, ta không bị cuốn phăng đến hồi kết; ta ấp ủ, ta trầm ngâm và trôi dạt khỏi văn bản trong những dòng suy tưởng mông lung, ứ đầy, thứ bồi đắp quanh các nhân vật một bầu không khí của những chất vấn và khơi gợi mà bản thân họ, trong phần lớn thời gian, chẳng hề hay biết. Dù họ chỉ là những người nông dân chất phác, ta bị buộc phải đặt họ đối diện với những số phận và những câu hỏi mang tầm vóc khổng lồ nhất, đến mức thường xuyên có cảm giác như thể những nhân vật quan trọng nhất trong một cuốn tiểu thuyết của Hardy là những kẻ chẳng hề có tên. Về thứ sức mạnh này, về thứ sự hiếu kỳ mang tính chiêm nghiệm này, Charlotte Brontë không hề có lấy một dấu vết. Bà không cố gắng giải quyết những vấn đề của nhân sinh; bà thậm chí còn chẳng nhận thức được rằng những vấn đề như thế có tồn tại; tất thảy sức mạnh của bà, và nó lại càng trở nên khủng khiếp hơn bởi chính sự dồn nén ấy, trút cả vào những lời khẳng định, "Tôi yêu", "Tôi hận", "Tôi đau khổ".
Bởi những nhà văn lấy cái tôi làm trung tâm và tự giới hạn bản thân sở hữu một quyền năng bị khước từ ở những người mang dung mạo bao quát và cởi mở hơn. Những ấn tượng của họ được đóng gói chặt chẽ và hằn in mạnh mẽ giữa những bức tường chật hẹp của chính họ. Không một thứ gì phóng chiếu ra từ tâm trí họ mà chưa bị đóng lên cái triện dấu của riêng họ. Họ học hỏi được rất ít từ những nhà văn khác, và những gì họ thu nạp thì họ không thể đồng hóa. Cả Hardy và Charlotte Brontë dường như đều đặt nền móng phong cách của mình trên một lối viết báo cứng nhắc và khuôn phép. Chất liệu cơ bản trong văn xuôi của họ thì vụng về và bướng bỉnh. Nhưng cả hai, bằng sự nhọc nhằn và tính chính trực ngoan cố nhất, bằng việc suy ngẫm mọi ý niệm cho đến khi nó tự khuất phục được ngôn từ, đã tự tôi luyện cho mình một thứ văn xuôi đúc khuôn trọn vẹn tâm trí họ; một thứ, thêm vào đó, mang một vẻ đẹp, một sức mạnh, một nhịp điệu lao nhanh của riêng nó. Ít nhất là Charlotte Brontë chẳng hàm ơn gì từ việc đọc nhiều sách. Bà chưa bao giờ học được sự trơn tru của một nhà văn chuyên nghiệp, hay đạt được khả năng nhồi nhét và uốn nắn ngôn ngữ tùy theo ý muốn của mình. "Tôi chẳng bao giờ có thể nghỉ ngơi trong sự giao tiếp với những tâm trí mạnh mẽ, kín kẽ và tinh tế, dù là nam hay nữ," bà viết, như bất kỳ một người chuyên viết xã luận nào trên một tờ báo tỉnh lẻ có thể đã viết; nhưng rồi thu gom ngọn lửa và tốc độ, bà tiếp bước bằng chính chất giọng đích thực của mình "cho đến khi tôi vượt qua được những phòng tuyến của sự e dè khuôn thước và bước qua ngưỡng cửa của sự tin tưởng, và giành được một vị trí ngay cạnh lò sưởi trong trái tim họ". Đó chính là nơi bà ngồi xuống; chính cái ánh sáng đỏ rực và chập chờn của ngọn lửa trái tim ấy đã soi rọi trang sách của bà. Nói cách khác, chúng ta đọc Charlotte Brontë không phải vì sự quan sát tinh tế về tính cách - các nhân vật của bà mạnh mẽ và sơ khai; không phải vì yếu tố hài kịch - sự hài hước của bà cay nghiệt và thô ráp; không phải vì một triết lý về nhân sinh - nhân sinh quan của bà là của con gái một vị mục sư nông thôn; mà là vì chất thơ của bà. Có lẽ điều đó luôn đúng với mọi nhà văn có được, như bà đã có, một cá tính áp đảo, những người mà, như ta hay nói trong đời thực, chỉ cần mở cửa bước vào là đã khiến người khác phải cảm nhận được sự hiện diện của mình. Có trong họ một sự hung tàn hoang dã nào đó liên tục gây chiến với trật tự hiện hữu của vạn vật, thứ khiến họ khao khát được kiến tạo ngay lập tức hơn là nhẫn nại quan sát. Chính cái nhiệt huyết này, chối bỏ những mảng xám nửa vời và những rào cản vụn vặt khác, cất cánh bay vượt qua những lề lối ứng xử thường nhật của những con người bình phàm và tự kết đồng minh với những đam mê câm lặng nhất của họ. Nó biến họ thành những nhà thơ, hoặc, nếu họ chọn viết bằng văn xuôi, thành những kẻ bất dung trước các khuôn khổ của nó. Chính vì lẽ đó mà cả Emily và Charlotte luôn viện cầu đến sự trợ giúp của thiên nhiên. Họ đều cảm thấy cần một biểu tượng nào đó mạnh mẽ hơn cho những đam mê rộng lớn và đang ngủ ngầm trong bản tính con người mà lời nói hay hành động không thể truyền tải hết. Chính bằng sự miêu tả về một cơn bão mà Charlotte đã khép lại cuốn tiểu thuyết hay nhất của mình, Villette. "Bầu trời buông thõng, trĩu nặng và đen kịt - một đám mây vỡ nát trôi dạt từ phía tây; những đám mây tự cuộn mình thành những hình thù kỳ dị." Thế đó, bà gọi thiên nhiên tới để miêu tả một trạng thái tâm trí mà chẳng thể diễn đạt bằng cách nào khác. Nhưng chẳng ai trong hai chị em quan sát thiên nhiên một cách chính xác như cách Dorothy Wordsworth đã quan sát, hay vẽ lại nó tỉ mỉ như Tennyson đã vẽ. Họ nắm lấy những khía cạnh của mặt đất gần gũi nhất với những gì chính họ cảm nhận hoặc gán cho các nhân vật của mình, và thế nên những cơn bão, những vùng đồng hoang, những khoảng không gian tươi đẹp của những ngày hè trong truyện của họ không phải là những vật trang sức được đính lên để làm đẹp cho một trang giấy tẻ nhạt hay để phô diễn khả năng quan sát của nhà văn - chúng chuyên chở cảm xúc và thắp sáng lên ý nghĩa của cuốn sách.
Ý nghĩa của một cuốn sách, thứ thường nằm cách biệt khỏi những gì xảy ra và những gì được thốt lên, và đúng hơn là bao hàm trong một mối liên kết nào đó mà bản thân những sự vật khác biệt đã có đối với nhà văn, tất yếu luôn khó để nắm bắt. Đặc biệt là khi, giống như chị em nhà Brontë, nhà văn mang đậm chất thơ, và ý nghĩa của anh ta không thể tách rời khỏi ngôn ngữ của anh ta, và tự thân nó lại giống một trạng thái tâm hồn hơn là một sự quan sát cụ thể. Đồi Gió Hú là một cuốn sách khó hiểu hơn Jane Eyre, bởi Emily là một nhà thơ vĩ đại hơn Charlotte. Khi Charlotte viết, bà nói bằng tài hùng biện, sự huy hoàng và lòng say mê rằng "Tôi yêu", "Tôi hận", "Tôi đau khổ". Trải nghiệm của bà, dẫu có mãnh liệt hơn, vẫn nằm trên cùng một bình diện với chúng ta. Nhưng không hề có chữ "Tôi" nào trong Đồi Gió Hú. Chẳng có bà gia sư nào. Chẳng có người chủ nào. Ở đó có tình yêu, nhưng không phải là tình yêu của đàn ông và đàn bà. Emily được truyền cảm hứng bởi một hệ tư tưởng mang tính khái quát hơn. Niềm thôi thúc hối thúc bà kiến tạo không phải là nỗi đau khổ hay những vết thương của riêng bà. Bà nhìn ra một thế giới đang bị chẻ đôi thành một sự hỗn mang khổng lồ và cảm thấy bên trong mình sức mạnh để hàn gắn nó lại trong một cuốn sách. Cái tham vọng khổng lồ ấy có thể được cảm nhận xuyên suốt cuốn tiểu thuyết - một sự vùng vẫy, phân nửa bị cản trở nhưng tràn đầy một niềm tin tuyệt luân, cốt để mượn miệng các nhân vật của mình nói lên một điều gì đó không chỉ đơn thuần là "Tôi yêu" hay "Tôi hận", mà là "chúng ta, toàn bộ nhân loại" và "người, những quyền năng vĩnh cửu..." câu văn vẫn bị bỏ ngỏ. Sẽ chẳng có gì kỳ lạ khi nó nên như thế; đúng hơn, điều đáng kinh ngạc là bà có thể khiến ta cảm nhận được bằng cách nào đó những gì bà chất chứa trong lòng muốn nói ra. Nó trào dâng trong những lời thốt ra phân nửa nghẹn ngào của Catherine Earnshaw, "Nếu mọi thứ khác diệt vong mà anh ấy vẫn tồn tại, tôi vẫn sẽ tiếp tục sống; còn nếu mọi thứ khác còn tồn tại mà anh ấy bị hủy diệt, vũ trụ này sẽ biến thành một kẻ xa lạ vĩ đại; tôi dường như sẽ chẳng còn là một phần của nó nữa". Nó lại bùng vỡ một lần nữa trước sự hiện diện của người chết. "Tôi thấy một sự an nghỉ mà cả trần gian lẫn địa ngục đều không thể phá vỡ, và tôi cảm nhận được một sự đoan chắc về cái cõi vĩnh hằng không còn bóng tối phía trước - cõi vĩnh hằng mà họ đã bước vào - nơi sự sống là vô tận về thời gian, tình yêu bao la trong sự thấu cảm và niềm vui trọn vẹn trong sự tràn đầy của nó." Chính cái sự gợi mở về một thứ sức mạnh chìm lấp bên dưới những hiện thân của bản tính con người, và nâng bổng chúng lên trước sự hiện diện của sự vĩ đại, đã mang lại cho cuốn sách một tầm vóc khổng lồ giữa những cuốn tiểu thuyết khác. Nhưng chỉ viết vài bài thơ trữ tình, thốt lên một tiếng kêu than, bày tỏ một tín điều thì chưa đủ đối với Emily Brontë. Trong thơ của mình, bà đã làm điều này một lần và mãi mãi, và những bài thơ của bà có lẽ sẽ sống lâu hơn cuốn tiểu thuyết của bà. Nhưng bà là một tiểu thuyết gia cũng như một nhà thơ. Bà phải tự gánh vác lấy một nhiệm vụ nhọc nhằn hơn và vô ơn hơn. Bà phải đối mặt với thực tế về những sự tồn tại khác, vật lộn với cơ chế của những sự vật ngoại lai, xây dựng lên, trong một hình hài có thể nhận diện được, những trang trại và những ngôi nhà, và tường thuật lại lời lẽ của những người đàn ông và đàn bà tồn tại độc lập với chính mình. Và vì thế, chúng ta vươn tới những đỉnh cao cảm xúc này không phải thông qua những lời huênh hoang hay những bản tụng ca cuồng loạn, mà bằng việc lắng nghe một cô gái tự hát những bài ca cổ trong lúc đung đưa trên cành cây; bằng việc ngắm nhìn lũ cừu trên đồng hoang gặm những lớp cỏ non; bằng việc lắng nghe cơn gió mềm mại mơn man qua từng ngọn cỏ. Cuộc sống tại trang trại với tất thảy những sự phi lý và tính bất khả thi của nó được phơi bày trước mắt chúng ta. Chúng ta được trao cho mọi cơ hội để so sánh Đồi Gió Hú với một trang trại có thật và Heathcliff với một con người bằng xương bằng thịt. Làm sao, chúng ta được phép tự hỏi, lại có thể có sự chân thực, sự thấu cảm hay những sắc thái tinh tế hơn của cảm xúc ở những người đàn ông và đàn bà quá ít tương đồng với những gì chính chúng ta từng nhìn thấy? Nhưng ngay khi ta đang đặt câu hỏi ấy, ta lại thấy trong Heathcliff hình bóng người anh em mà một người em gái thiên tài có thể đã nhìn thấy; hắn thật phi lý ta nói, nhưng dẫu vậy, chưa từng có một chàng trai nào trong văn học lại sở hữu một sự tồn tại sống động đến thế. Với hai nàng Catherine cũng vậy; những người phụ nữ chẳng bao giờ có thể cảm nhận như họ hay hành động theo kiểu của họ, ta nói. Dẫu thế nào đi nữa, họ vẫn là những người phụ nữ đáng yêu nhất trong nền tiểu thuyết Anh. Cứ như thể bà có thể xé nát tất cả những tiêu chuẩn mà chúng ta dùng để nhận diện con người, và bơm đầy vào những ảo ảnh trong suốt không thể nhận diện này một luồng sinh khí mạnh mẽ đến mức chúng siêu việt khỏi thực tại. Vậy nên, quyền năng của bà là thứ quyền năng hiếm hoi nhất trong số mọi quyền năng. Bà có thể giải phóng cuộc sống khỏi sự phụ thuộc vào các sự thật trần trụi; chỉ bằng vài nét điểm xuyết đã có thể phác họa nên cái thần hồn của một khuôn mặt đến mức nó chẳng cần đến một thân thể; bằng việc nói về vùng đồng hoang đã có thể khiến gió thổi và sấm rền.
Jane Eyre and Wuthering Heights
Of the hundred years that have passed since Charlotte Brontë was born, she, the centre now of so much legend, devotion, and literature, lived but thirty-nine. It is strange to reflect how different those legends might have been had her life reached the ordinary human span. She might have become, like some of her famous contemporaries, a figure familiarly met with in London and elsewhere, the subject of pictures and anecdotes innumerable, the writer of many novels, of memoirs possibly, removed from us well within the memory of the middle-aged in all the splendour of established fame. She might have been wealthy, she might have been prosperous. But it is not so. When we think of her we have to imagine some one who had no lot in our modern world; we have to cast our minds back to the 'fifties of the last century, to a remote parsonage upon the wild Yorkshire moors. In that parsonage, and on those moors, unhappy and lonely, in her poverty and her exaltation, she remains for ever.
These circumstances, as they affected her character, may have left their traces on her work. A novelist, we reflect, is bound to build up his structure with much very perishable material which begins by lending it reality and ends by cumbering it with rubbish. As we open Jane Eyre once more we cannot stifle the suspicion that we shall find her world of imagination as antiquated, mid-Victorian, and out of date as the parsonage on the moor, a place only to be visited by the curious, only preserved by the pious. So we open Jane Eyre; and in two pages every doubt is swept clean from our minds.

Folds of scarlet drapery shut in my view to the right hand; to the left were the clear panes of glass, protecting, but not separating me from the drear November day. At intervals, while turning over the leaves of my book, I studied the aspect of that winter afternoon. Afar, it offered a pale blank of mist and cloud; near, a scene of wet lawn and storm-beat shrub, with ceaseless rain sweeping away wildly before a long and lamentable blast.
There is nothing there more perishable than the moor itself, or more subject to the sway of fashion than the "long and lamentable blast". Nor is this exhilaration short-lived. It rushes us through the entire volume, without giving us time to think, without letting us lift our eyes from the page. So intense is our absorption that if some one moves in the room the movement seems to take place not there but up in Yorkshire. The writer has us by the hand, forces us along her road, makes us see what she sees, never leaves us for a moment or allows us to forget her.[12] At the end we are steeped through and through with the genius, the vehemence, the indignation of Charlotte Brontë. Remarkable faces, figures of strong outline and gnarled feature have flashed upon us in passing; but it is through her eyes that we have seen them. Once she is gone, we seek for them in vain. Think of Rochester and we have to think of Jane Eyre. Think of the moor, and again, there is Jane Eyre. Think of the drawing-room, even, those "white carpets on which seemed laid brilliant garlands of flowers", that "pale Parian mantelpiece" with its Bohemia glass of "ruby red" and the "general blending of snow and fire"—what is all that except Jane Eyre?
The drawbacks of being Jane Eyre are not far to seek. Always to be a governess and always to be in love is a serious limitation in a world which is full, after all, of people who are neither one nor the other. The characters of a Jane Austen or of a Tolstoi have a million facets compared with these. They live and are complex by means of their effect upon many different people who serve to mirror them in the round. They move hither and thither whether their creators watch them or not, and the world in which they live seems to us an independent world which we can visit, now that they have created it, by ourselves. Thomas Hardy is more akin to Charlotte Brontë in the power of his personality and the narrowness of his vision. But the differences are vast. As we read Jude the Obscure we are not rushed to a finish; we brood and ponder and drift away from the text in plethoric trains of thought which build up round the characters an atmosphere of question and suggestion of which they are themselves, as often as not, unconscious. Simple peasants as they are, we are forced to confront them with destinies and questionings of the hugest import, so that often it seems as if the most important characters in a Hardy novel are those which have no names. Of this power, of this speculative curiosity, Charlotte Brontë has no trace. She does not attempt to solve the problems of human life; she is even unaware that such problems exist; all her force, and it is the more tremendous for being constricted, goes into the assertion, "I love", "I hate", "I suffer".
For the self-centred and self-limited writers have a power denied the more catholic and broad-minded. Their impressions are close packed and strongly stamped between their narrow walls. Nothing issues from their minds which has not been marked with their own impress. They learn little from other writers, and what they adopt they cannot assimilate. Both Hardy and Charlotte Brontë appear to have founded their styles upon a stiff and decorous journalism. The staple of their prose is awkward and unyielding. But both with labour and the most obstinate integrity by thinking every thought until it has subdued words to itself, have forged for themselves a prose which takes the mould of their minds entire; which has, into the bargain, a beauty, a power, a swiftness of its own. Charlotte Brontë, at least, owed nothing to the reading of many books. She never learnt the smoothness of the professional writer, or acquired his ability to stuff and sway his language as he chooses. "I could never rest in communication with strong, discreet, and refined minds, whether male or female," she writes, as any leader-writer in a provincial journal might have written; but gathering fire and speed goes on in her own authentic voice "till I had passed the outworks of conventional reserve and crossed the threshold of confidence, and won a place by their hearts' very hearthstone". It is there that she takes her seat; it is the red and fitful glow of the heart's fire which illumines her page. In other words, we read Charlotte Brontë not for exquisite observation of character—her characters are vigorous and elementary; not for comedy—hers is grim and crude; not for a philosophic view of life—hers is that of a country parson's daughter; but for her poetry. Probably that is so with all writers who have, as she has, an overpowering personality, who, as we should say in real life, have only to open the door to make themselves felt. There is in them some untamed ferocity perpetually at war with the accepted order of things which makes them desire to create instantly rather than to observe patiently. This very ardour, rejecting half shades and other minor impediments, wings its way past the daily conduct of ordinary people and allies itself with their more inarticulate passions. It makes them poets, or, if they choose to write in prose, intolerant of its restrictions. Hence it is that both Emily and Charlotte are always invoking the help of nature. They both feel the need of some more powerful symbol of the vast and slumbering passions in human nature than words or actions can convey. It is with a description of a storm that Charlotte ends her finest novel Villette. "The skies hang full and dark—a wrack sails from the west; the clouds cast themselves into strange forms." So she calls in nature to describe a state of mind which could not otherwise be expressed. But neither of the sisters observed nature accurately as Dorothy Wordsworth observed it, or painted it minutely as Tennyson painted it. They seized those aspects of the earth which were most akin to what they themselves felt or imputed to their characters, and so their storms, their moors, their lovely spaces of summer weather are not ornaments applied to decorate a dull page or display the writer's powers of observation—they carry on the emotion and light up the meaning of the book.
The meaning of a book, which lies so often apart from what happens and what is said and consists rather in some connection which things in themselves different have had for the writer, is necessarily hard to grasp. Especially this is so when, like the Brontës, the writer is poetic, and his meaning inseparable from his language, and itself rather a mood than a particular observation. Wuthering Heights is a more difficult book to understand than Jane Eyre, because Emily was a greater poet than Charlotte. When Charlotte wrote she said with eloquence and splendour and passion "I love", "I hate", "I suffer". Her experience, though more intense, is on a level with our own. But there is no "I" in Wuthering Heights. There are no governesses. There are no employers. There is love, but it is not the love of men and women. Emily was inspired by some more general conception. The impulse which urged her to create was not her own suffering or her own injuries. She looked out upon a world cleft into gigantic disorder and felt within her the power to unite it in a book. That gigantic ambition is to be felt throughout the novel—a struggle, half thwarted but of superb conviction, to say something through the mouths of her characters which is not merely "I love" or "I hate", but "we, the whole human race" and "you, the eternal powers . . ." the sentence remains unfinished. It is not strange that it should be so; rather it is astonishing that she can make us feel what she had it in her to say at all. It surges up in the half-articulate words of Catherine Earnshaw, "If all else perished and he remained, I should still continue to be; and if all else remained and he were annihilated, the universe would turn to a mighty stranger; I should not seem part of it". It breaks out again in the presence of the dead. "I see a repose that neither earth nor hell can break, and I feel an assurance of the endless and shadowless hereafter—the eternity they have entered—where life is boundless in its duration, and love in its sympathy and joy in its fulness. "It is this suggestion of power underlying the apparitions of human nature, and lifting them up into the presence of greatness that gives the book its huge stature among other novels. But it was not enough for Emily Brontë to write a few lyrics, to utter a cry, to express a creed. In her poems she did this once and for all, and her poems will perhaps outlast her novel. But she was novelist as well as poet. She must take upon herself a more laborious and a more ungrateful task. She must face the fact of other existences, grapple with the mechanism of external things, build up, in recognisable shape, farms and houses and report the speeches of men and women who existed independently of herself. And so we reach these summits of emotion not by rant or rhapsody but by hearing a girl sing old songs to herself as she rocks in the branches of a tree; by watching the moor sheep crop the turf; by listening to the soft wind breathing through the grass. The life at the farm with all its absurdities and its improbability is laid open to us. We are given every opportunity of comparing Wuthering Heights with a real farm and Heathcliff with a real man. How, we are allowed to ask, can there be truth or insight or the finer shades of emotion in men and women who so little resemble what we have seen ourselves? But even as we ask it we see in Heathcliff the brother that a sister of genius might have seen; he is impossible we say, but nevertheless no boy in literature has so vivid an existence as his. So it is with the two Catherines; never could women feel as they do or act in their manner, we say. All the same, they are the most lovable women in English fiction. It is as if she could tear up all that we know human beings by, and fill these unrecognisable transparences with such a gust of life that they transcend reality. Hers, then, is the rarest of all powers. She could free life from its dependence on facts; with a few touches indicate the spirit of a face so that it needs no body; by speaking of the moor make the wind blow and the thunder roar.
SẢN PHẨM LIÊN QUAN
| Wuthering Heights |
| Jane Eyre (Folio Classique) |

Kiểm tra đơn hàng 