Thế kỷ XX ngắn - Eric Hobsawn

Thế kỷ XX ngắn - Eric Hobsawn

Trích lược từ Age of extreme - E. Hobsawn

Làm thế nào để giải mã "thế kỷ XX ngắn ngủi" - tức là những năm tháng trôi đi từ khi Thế chiến I bùng nổ cho tới lúc Liên Xô tan rã - mà như chúng ta nhìn lại hôm nay, chúng tạo thành một giai đoạn lịch sử nhất quán vừa mới khép lại? Chúng ta chẳng biết điều gì sẽ xảy đến tiếp theo và thiên niên kỷ thứ ba sẽ ra sao, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng chính thế kỷ XX đã nhào nặn nên nó. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì rằng vào những năm cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, một thời đại trong lịch sử thế giới đã chấm dứt để khởi đầu cho một thời đại mới. Đó là thông tin trọng yếu đối với các sử gia của thế kỷ này, bởi ngay cả khi họ có thể suy đoán về tương lai dựa trên sự thấu hiểu quá khứ, nhiệm vụ của họ không giống như kẻ dự đoán kết quả một cuộc đua ngựa. Những cuộc đua duy nhất mà họ phải mô tả và phân tích là những cuộc đua mà kết quả thắng bại đã ngã ngũ. Dẫu sao, sự thành công của những kẻ dự báo trong ba mươi hay bốn mươi năm qua, bất kể kỹ năng tiên tri của họ ra sao, đã thấp một cách ngoạn mục đến mức chỉ có các chính phủ và các viện nghiên cứu kinh tế là còn tiếp tục tin tưởng vào họ, hoặc ra vẻ như vậy. Thậm chí, tỉ lệ thất bại của họ có lẽ còn tăng lên kể từ sau Thế chiến II.

 

Trong cuốn sách này, thế kỷ XX hiện lên với cấu trúc như một bức họa ba tấm (triptych). Tiếp sau một thời đại của những thảm họa - kéo dài từ năm 1914 cho tới khi Thế chiến II kết thúc - là một giai đoạn kéo dài 25 hoặc 30 năm với sự tăng trưởng kinh tế và biến đổi xã hội phi thường, thứ có lẽ đã làm thay đổi xã hội loài người sâu sắc hơn bất kỳ giai đoạn nào khác có độ dài tương đương. Nhìn lại, nó có thể được coi là một kiểu "thời đại hoàng kim", và thực tế nó đã được gọi tên như vậy ngay sau khi kết thúc, vào đầu những năm 1970. Phần cuối cùng của thế kỷ là một kỷ nguyên mới của sự phân rã, bất định và khủng hoảng, và đối với những vùng đất rộng lớn như châu Phi, Liên Xô cũ hay các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở châu Âu, đó là thời đại của những thảm họa. Khi thập niên 1980 nhường chỗ cho thập niên 1990, những ai suy ngẫm về quá khứ và tương lai của thế kỷ đều nhìn nhận từ một góc độ fin de siècle (cuối thế kỷ) ngày càng u ám. Từ vị thế của những năm 1990, có thể kết luận rằng thế kỷ XX đã kinh qua một thời đại hoàng kim ngắn ngủi, trên con đường đi từ cuộc khủng hoảng này sang cuộc khủng hoảng khác, hướng tới một tương lai mịt mờ và đầy vấn nạn, nhưng không nhất thiết phải là ngày tận thế. Tuy nhiên, như các sử gia muốn nhắc nhở những ai đang mải mê với những suy đoán siêu hình về "sự cáo chung của lịch sử", tương lai vẫn hiện hữu. Sự khái quát hóa tuyệt đối an toàn duy nhất về lịch sử là nó sẽ còn tiếp diễn chừng nào nhân loại còn tồn tại.


Nội dung cuốn sách được cấu trúc theo các ý niệm vừa nêu. Nó khởi đầu bằng Thế chiến I - dấu mốc cho sự sụp đổ của nền văn minh (phương Tây) thế kỷ XIX. Nền văn minh ấy vốn dĩ là tư bản về kinh tế, tự do về cấu trúc pháp lý và hiến pháp, tư sản về hình ảnh của giai cấp thống trị đặc trưng, và rạng rỡ bởi những tiến bộ đạt được trong khoa học, tri thức, giáo dục cũng như tiến bộ vật chất và đạo đức. Hơn nữa, nó mang một niềm xác tín sâu sắc về vị thế trung tâm của châu Âu - cái nôi của các cuộc cách mạng khoa học, nghệ thuật, chính trị và công nghiệp; nơi mà nền kinh tế đã vươn vòi bạch tuộc tầm ảnh hưởng ra phần lớn thế giới, nơi các đạo quân của nó đã chinh phạt và khuất phục; nơi mà dân số đã tăng trưởng chiếm tới một phần ba nhân loại (bao gồm cả dòng chảy di cư mạnh mẽ của người châu Âu và hậu duệ họ), và các quốc gia chủ chốt của nó đã thiết lập nên hệ thống chính trị toàn cầu.


Những thập kỷ trôi qua từ khi Thế chiến I bắt đầu cho tới lúc Thế chiến II kết thúc là một thời đại thảm họa đối với xã hội này; trong suốt bốn mươi năm, nó đã hứng chịu hàng loạt tai ương nối tiếp. Có những khoảnh khắc mà ngay cả những kẻ bảo thủ thông thái nhất cũng chẳng dám đặt cược vào sự tồn vong của nó. Nền móng của nó bị rạn nứt bởi hai cuộc đại chiến toàn cầu, theo sau là hai làn sóng nổi dậy và cách mạng lan rộng, đưa vào quyền lực một hệ thống tự xưng là giải pháp thay thế - vốn được định mệnh lịch sử sắp đặt - cho xã hội tư sản và tư bản; ban đầu là trên một phần sáu diện tích thế giới, và sau Thế chiến II, nó bao trùm hơn một phần ba dân số hành tinh. Các đế chế thực dân hùng mạnh được gây dựng trước và trong thời đại đế quốc đã tan thành mây khói. Lịch sử của chủ nghĩa đế quốc hiện đại, vốn từng vững chãi và tự tin đến thế khi Nữ hoàng Victoria của Anh quốc băng hà, đã không kéo dài quá một đời người (ví như đời của Winston Churchill, 1874-1965).


Nhưng đó không phải là những tai ương duy nhất. Thực tế, một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới với độ sâu chưa từng có đã nổ ra, làm rung chuyển cả những nền móng vững chắc nhất của các nền kinh tế tư bản và dường như có thể đặt dấu chấm hết cho nền kinh tế toàn cầu - thành tựu mà chủ nghĩa tư bản tự do thế kỷ XIX đã dày công kiến tạo. Ngay cả Hoa Kỳ, nơi không bị chiến tranh và cách mạng tàn phá, cũng có vẻ như đang đứng bên bờ vực sụp đổ. Trong khi nền kinh tế chao đảo, các thiết chế của dân chủ tự do gần như biến mất trong khoảng từ 1917 đến 1942, ngoại trừ tại một dải đất hẹp ở châu Âu và một vài nơi ở Bắc Mỹ cùng Australasia, do sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít cùng các phong trào và chế độ độc tài vệ tinh của nó.


Chỉ có liên minh kỳ lạ và mang tính tạm thời giữa chủ nghĩa tư bản tự do và chủ nghĩa cộng sản nhằm đối phó với thách thức ấy mới cứu vãn được nền dân chủ; bởi lẽ chiến thắng trước nước Đức của Hitler về cơ bản là công lao (không thể khác được) của Hồng quân. Từ đa dạng các góc nhìn, giai đoạn liên minh này - chủ yếu là những năm 1930 và 1940 - chính là thời điểm quyết định trong lịch sử thế kỷ XX. Theo nhiều nghĩa, đây là một tiến trình đầy nghịch lý, bởi trong phần lớn thế kỷ - ngoại trừ quãng ngắn ngủi của chủ nghĩa chống phát xít - mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản luôn đặc trưng bởi sự thù địch không thể điều hòa. Chiến thắng của Liên bang Xô viết trước Hitler là thành tựu vĩ đại nhất của chế độ được thiết lập tại quốc gia đó qua Cách mạng Tháng Mười, như có thể thấy qua sự so sánh kết quả kinh tế của nước Nga Sa hoàng trong Thế chiến I với kinh tế Xô viết trong Thế chiến II. Có lẽ, nếu không có chiến thắng đó, thế giới phương Tây (không kể Hoa Kỳ) giờ đây không phải là những hình thái khác nhau của chế độ nghị viện tự do, mà là những biến thể của các chế độ độc tài và phát xít. Một trong những sự mỉa mai mà thế kỷ kỳ lạ này dành cho chúng ta chính là: kết quả bền vững nhất của Cách mạng Tháng Mười - vốn có mục tiêu tiêu diệt chủ nghĩa tư bản trên quy mô toàn cầu - lại là việc đã cứu sống kẻ thù không đội trời chung của mình, cả trong chiến tranh lẫn hòa bình, bằng cách cung cấp cho nó một động lực (sự sợ hãi) để tự cải cách từ bên trong sau khi Thế chiến II kết thúc, đồng thời truyền bá khái niệm kế hoạch hóa kinh tế và cung cấp một số quy trình cần thiết cho cuộc cải cách ấy.


Giờ đây, một khi chủ nghĩa tư bản tự do đã sống sót - dù trầy trật - qua ba thách thức lớn là Đại suy thoái, chủ nghĩa phát xít và chiến tranh, nó dường như vẫn phải đối mặt với sự tiến công toàn cầu của cuộc cách mạng, mà lực lượng có thể tập hợp quanh Liên Xô - quốc gia đã vươn mình sau Thế chiến II như một siêu cường.
Tuy nhiên, như chúng ta có thể nhận định từ vị thế hồi cố hôm nay, sức mạnh của thách thức hành tinh mà chủ nghĩa xã hội đặt ra cho chủ nghĩa tư bản lại nằm chính ở sự yếu hèn của đối thủ. Nếu không có sự sụp đổ của xã hội tư sản thế kỷ XIX trong thời đại thảm họa, sẽ chẳng có Cách mạng Tháng Mười và cũng chẳng có Liên Xô. Hệ thống kinh tế được ứng biến tại hạt nhân Á-Âu nông thôn kiệt quệ của đế quốc Sa hoàng cũ - cái hệ thống được đặt tên là chủ nghĩa xã hội - sẽ không bao giờ được coi là một giải pháp thay thế khả dĩ cho kinh tế tư bản trên quy mô thế giới; và chẳng ai làm vậy cả. Chính cuộc Đại suy thoái những năm 1930 đã làm cho viễn cảnh ấy có vẻ khả thi, cũng như cách mà chủ nghĩa phát xít đã biến Liên Xô thành công cụ không thể thiếu để đánh bại Hitler; và do đó, biến nó thành một trong hai siêu cường mà sự đối đầu đã thống trị và lấp đầy nỗi kinh hoàng trong nửa sau thế kỷ XX. Nhưng đồng thời - như giờ đây có thể suy luận - sự đối đầu ấy cũng đã làm ổn định cấu trúc chính trị của nó về nhiều mặt. Nếu tất cả những điều đó không xảy ra, Liên Xô đã chẳng thể thấy mình đứng đầu một "phe xã hội chủ nghĩa" bao trùm một phần ba nhân loại suốt mười lăm năm giữa thế kỷ, với một nền kinh tế mà trong một khoảnh khắc thoáng qua dường như có khả năng vượt qua sự tăng trưởng kinh tế tư bản.


Câu hỏi lớn nhất mà các sử gia thế kỷ XX phải giải đáp là: làm thế nào và tại sao sau Thế chiến II, chủ nghĩa tư bản lại khởi đầu - trước sự ngỡ ngàng của tất cả - một "thời đại hoàng kim" chưa từng có tiền lệ và có lẽ là bất thường trong những năm 1947-1973? 

Giang Minh dịch

Đang xem: Thế kỷ XX ngắn - Eric Hobsawn

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
Giỏ Hàng