Bertrand Russell: Ngợi Ca Sự Nhàn Rỗi

Bertrand Russell: Ngợi Ca Sự Nhàn Rỗi

Tiểu dẫn

 

Bertrand Russell (1872-1970) là nhà triết học, nhà toán học kiệt xuất người Anh, người góp phần đặt nền móng cho triết học phân tích và là đồng tác giả của Principia Mathematica - công trình cơ sở của logic học hiện đại. Dù được sinh ra trong một gia đình quý tộc danh giá bậc nhất, Russell lại dành cả cuộc đời để đứng về phía người lao động, phản đối chiến tranh và kiên quyết chống lại các định kiến giai cấp. Chính tinh thần hoài nghi, lối tư duy sắc sảo cùng niềm tin bền bỉ vào lý trí và tự do tư tưởng đã làm nên một trong những tiếng nói có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, đưa ông đến với giải Nobel Văn học năm 1950 nhờ những trước tác giàu tính nhân văn và chiều sâu triết luận.


Bài tiểu luận “In Praise of Idleness” (Ngợi ca sự nhàn rỗi) được viết vào năm 1932, giữa lúc thế giới vẫn chìm trong dư chấn của cuộc Đại khủng hoảng kinh tế. Khi mà kỷ nguyên máy móc đáng lẽ phải giải phóng con người, thì hệ thống kinh tế méo mó lại ép buộc một nửa xã hội lao động đến kiệt sức để giữ lấy sinh kế, trong khi nửa còn lại rơi vào cảnh thất nghiệp và đói nghèo. Đây cũng là thời điểm trỗi dậy của các hệ tư tưởng tôn sùng lao động chân tay một cách thái quá, coi công việc là nghĩa vụ tối thượng của công dân. 


Trong bối cảnh đó, tiểu luận của Russell giống như một tiếng nói phản biện mạnh mẽ vào lối tư duy xơ cứng của thời đại công nghiệp. Ông cho rằng quan niệm “nhàn rỗi là tội lỗi” thực chất là đòn thao túng của giai cấp thống trị nhằm vắt kiệt thặng dư từ người nghèo, từ đó ông đưa ra đề xuất táo bạo về “một ngày làm việc 4 giờ”. Điều Russell muốn ngợi ca không phải là sự lười biếng, mà là quyền được sống một đời sống tinh thần phong phú: được dành thời gian để tư duy, sáng tạo nghệ thuật và học cách sống tử tế hơn. “In Praise of Idleness” vì thế vẫn còn nguyên giá trị và sức nặng tư tưởng cho tới ngày nay, khi mà làn sóng của văn hóa hối hả và hội chứng kiệt sức một lần nữa đặt ra những suy ngẫm về một cuộc đời đáng sống.


Dưới đây là phần trích dịch tiểu luận:

 


 

Ngợi Ca Sự Nhàn Rỗi


I

 

Giống như phần lớn những người cùng thế hệ, tôi lớn lên với lời răn rằng “nhàn cư vi bất thiện” [1]. Là một đứa trẻ ngoan, tôi tin tất cả những gì được dạy, và từ đó hình thành trong mình một tiếng nói lương tâm buộc tôi phải lao động cật lực cho đến tận bây giờ. Nhưng dù tiếng nói lương tâm ấy vẫn còn chi phối hành động, quan điểm của tôi thì đã đổi khác hoàn toàn. Tôi cho rằng thế giới này đang làm việc quá nhiều, rằng niềm tin coi lao động là một đức hạnh đã và đang gây hại khôn lường, và rằng điều cần được rao giảng ở các nước công nghiệp hiện đại khác hẳn so với những gì xưa nay người ta vẫn truyền dạy. Ai cũng biết câu chuyện về một lữ khách ở Naples, khi thấy mười hai kẻ ăn xin nằm sưởi nắng bên đường (chuyện xảy ra trước thời Mussolini [2]), đã ngỏ ý tặng một đồng lira cho kẻ lười nhất trong số họ. Mười một người lập tức bật dậy tranh giành, thế là ông trao đồng lira ấy cho người thứ mười hai, người vẫn nằm yên. Người lữ khách đó đã nhìn đúng vấn đề. Chỉ tiếc là ở những xứ sở không được ưu ái tận hưởng ánh nắng Địa Trung Hải, sự nhàn rỗi khó lòng thực hành đến thế, và cần cả một chiến dịch tuyên truyền quy mô để khởi xướng cho lối sống này.

 

[lược một đoạn]

 

Điều tôi muốn nói một cách hết sức nghiêm túc là, thế giới hiện đại đang chịu tổn hại nặng nề từ niềm tin vào đức hạnh của công việc, và con đường dẫn đến hạnh phúc và thịnh vượng chỉ có thể đạt được bằng cách cắt giảm giờ làm một cách có tổ chức.

 

Trước hết, công việc là gì? Công việc có hai loại. Một là xê dịch vật chất trên hoặc gần bề mặt Trái Đất so với những vật chất khác. Hai là sai khiến người khác làm việc đó. Loại thứ nhất vất vả mà lương thấp, loại thứ hai nhàn nhã mà lương cao, và có khả năng mở rộng gần như vô hạn. Không chỉ có kẻ ra lệnh, mà còn có cả những kẻ khuyên người khác nên ra lệnh gì. Thường thì hai luồng ý kiến trái ngược nhau lại được hai phe khác nhau đưa ra cùng lúc, trò ấy gọi là chính trị. Kỹ năng cần cho loại công việc này không nằm ở hiểu biết về chủ đề được bàn tới, mà nằm ở tài ăn nói, viết lách sao cho có sức thuyết phục. Nói cách khác, đó là nghệ thuật quảng cáo.

 

Khắp châu Âu còn có một tầng lớp thứ ba được trọng vọng hơn cả hai tầng lớp lao động kể trên: những kẻ, nhờ sở hữu đất đai, có thể bắt người khác trả tiền để được phép tồn tại và làm việc trên chính mảnh đất đó. Những đại địa chủ này thật ra rất nhàn rỗi, và đáng lẽ tôi phải ca ngợi họ mới phải. Đáng tiếc thay, sự nhàn nhã của họ chỉ có được nhờ mồ hôi của kẻ khác. Chính khát khao được an nhàn hưởng thụ của họ, về mặt lịch sử, lại là cội nguồn sinh ra toàn bộ cái gọi là “phúc âm của công việc” [3].

 

Từ buổi bình minh của văn minh nhân loại cho tới cuộc Cách mạng Công nghiệp, một người, theo lẽ thường, chỉ có thể làm ra (bằng lao động cật lực) một lượng của cải nhỉnh hơn đôi chút so với mức cần thiết để nuôi sống bản thân và gia đình. Chút thặng dư ít ỏi ấy không được để lại cho người làm ra nó, mà bị các tăng lữ và chiến binh chiếm đoạt. Ngay cả trong những năm mất mùa, họ vẫn lấy đi ngần ấy như mọi khi, khiến không ít người lao động phải chết đói. Hệ thống ấy còn tồn tại ở Nga cho tới năm 1917, và vẫn còn ở phương Đông. Một hệ thống đã tồn tại quá lâu và kết thúc quá gần đây tất nhiên để lại dấu ấn sâu đậm trong nếp nghĩ của con người. Phần lớn những gì ta coi là hiển nhiên về sự đáng quý của công việc thật ra bắt nguồn từ hệ thống ấy, mang tính chất tiền công nghiệp, không còn phù hợp với thế giới hiện đại nữa. Kỹ thuật hiện đại đã khiến sự nhàn nhã, trong một giới hạn nhất định, không còn là đặc quyền của một thiểu số nhỏ bé, mà có thể trở thành quyền lợi được san sẻ đều khắp cộng đồng. Đạo đức của công việc là đạo đức của những kẻ nô lệ, còn thế giới hiện đại thì không còn cần đến chế độ nô lệ nữa.

 

[lược một đoạn]

 

Điều này đã bộc lộ rõ trong Thế chiến thứ nhất. Khi ấy, toàn bộ những người trong quân ngũ, những người sản xuất đạn dược, làm công tác tình báo, tuyên truyền đều bị rút khỏi các ngành sản xuất trực tiếp. Vậy mà mức sống chung của người lao động bên phe Đồng minh vẫn cao hơn cả trước và sau chiến tranh. Chiến tranh đã chứng minh một cách thuyết phục rằng, bằng cách tổ chức sản xuất khoa học, ta hoàn toàn có thể duy trì đời sống sung túc tương đối chỉ với một phần nhỏ năng lực lao động của thế giới. Giá như khi chiến tranh kết thúc, bộ máy tổ chức khoa học ấy được giữ nguyên và giờ làm được rút xuống còn bốn tiếng, thì mọi sự đã tốt đẹp biết bao. Nhưng thay vào đó, mớ hỗn loạn cũ lại quay trở lại. Người có việc làm bị bắt làm nhiều giờ hơn, còn kẻ không có việc thì bị bỏ mặc đói khát. Vì đâu nên nỗi? Bởi công việc bị coi là một bổn phận, và người ta không được trả công tương xứng với những gì mình làm ra, mà tương xứng với cái đức hạnh thể hiện qua sự cần cù của họ.

 

Đó chính là đạo đức của một “Nhà nước Nô lệ” [4], nay bị đem áp dụng vào một hoàn cảnh hoàn toàn khác với hoàn cảnh đã sản sinh ra nó. Hãy thử lấy một ví dụ minh họa. Giả sử một số người đang làm nghề sản xuất đinh ghim, mỗi ngày làm tám tiếng, làm ra đúng số đinh ghim mà thế giới cần. Rồi có ai đó phát minh ra một cỗ máy giúp cũng chừng ấy người làm ra gấp đôi số đinh ghim như trước. Nhưng thế giới đâu cần gấp đôi số đinh ghim. Trong một thế giới biết lẽ phải, tất cả những người liên quan sẽ chuyển sang làm bốn tiếng thay vì tám, mọi thứ khác cứ thế vận hành như cũ. Nhưng trong thế giới thực, cách làm ấy bị coi là suy đồi đạo đức. Công nhân vẫn phải làm đủ tám tiếng, đinh ghim thì thừa mứa, một số chủ xưởng phá sản, và một nửa số người từng làm nghề ấy bị sa thải. Rốt cuộc, tổng số thời gian nhàn rỗi vẫn y hệt, chỉ khác là một nửa số người hoàn toàn rảnh rang trong khi nửa còn lại vẫn còng lưng làm việc quá sức. Bằng cách này, người ta khéo léo biến sự nhàn rỗi tất yếu thành nguồn cơn khổ đau khắp nơi, thay vì để nó trở thành niềm hạnh phúc chung cho tất cả. Còn điều gì điên rồ hơn thế nữa không?

 

Cái ý nghĩ rằng người nghèo cũng nên được nhàn hạ luôn gây sốc cho người giàu. Ở nước Anh đầu thế kỷ XIX, một ngày làm việc bình thường của đàn ông là mười lăm tiếng, trẻ con cũng thường phải làm mười hai tiếng một ngày. Khi những kẻ hay xen vào chuyện người khác [5] gợi ý rằng có lẽ ngần ấy giờ làm là hơi quá, họ liền được đáp lại rằng công việc giúp người lớn tránh xa rượu chè, còn trẻ con tránh xa những trò nghịch dại. Hồi tôi còn nhỏ, khi một số ngày nghỉ lễ công cộng vừa được luật hóa, tôi còn nhớ từng nghe một bà Công tước già than: “Người nghèo cần ngày nghỉ để làm gì? Họ phải đi làm chứ”. Ngày nay người ta ít nói thẳng ra như vậy, nhưng cái tâm lý ấy vẫn còn đó, và chính là nguồn cơn của không ít rối ren kinh tế.

 

II

 

Hãy thử nhìn thẳng vào đạo đức của công việc, không chút mê muội. Mọi con người, tất yếu, đều tiêu thụ trong suốt cuộc đời mình một lượng sản phẩm nhất định từ sức lao động của đồng loại. Giả như lao động nói chung là một việc chẳng mấy dễ chịu, thì thật bất công nếu ai đó tiêu thụ nhiều hơn những gì mình làm ra. Dĩ nhiên, người ta có thể cung cấp dịch vụ thay vì hàng hóa, như một bác sĩ chẳng hạn, nhưng dẫu sao cũng nên đem lại thứ gì đó để đổi lấy miếng ăn chốn ở của mình. Đến mức này thì bổn phận lao động là điều cần thừa nhận, nhưng chỉ dừng ở đó mà thôi.

 

[lược một đoạn]

 

Nếu người làm công ăn lương bình thường chỉ làm bốn tiếng một ngày thì đã đủ cho tất cả mọi người, và chẳng còn ai thất nghiệp, miễn là có một sự tổ chức hợp lý ở mức vừa phải. Ý tưởng này khiến giới khá giả sốc, bởi họ tin chắc rằng người nghèo sẽ chẳng biết dùng chừng ấy thời gian rảnh vào việc gì. Ở Mỹ, những người đàn ông giàu có vẫn thường làm việc nhiều giờ, và tất nhiên sẽ bực bội trước ý tưởng để người lao động được nhàn hạ. Thực ra họ cũng chẳng ưa gì sự nhàn rỗi, kể cả với chính con trai mình. Lạ lùng thay, trong khi họ muốn con trai làm việc cật lực đến mức chẳng còn thời gian để trở nên văn minh, thì họ lại chẳng mảy may bận tâm rằng vợ và con gái mình chẳng có việc gì để làm cả.

 

Phải công nhận rằng việc biết cách sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách khôn ngoan là sản phẩm của văn minh và giáo dục. Một người đã quen làm việc nhiều giờ suốt đời hẳn sẽ thấy chán nản nếu đột ngột được rảnh rang. Nhưng nếu thiếu đi một lượng thời gian nhàn rỗi đáng kể, con người sẽ bị tước mất nhiều điều tốt đẹp nhất trong đời. Chẳng còn lý do gì để phần đông dân chúng phải chịu sự thiệt thòi ấy nữa. Chỉ có một thứ khắc kỷ ngớ ngẩn, thường là thứ khắc kỷ người ta áp đặt lên kẻ khác [6], mới khiến ta cứ khăng khăng đòi làm việc quá mức cần thiết khi nhu cầu ấy đã chẳng còn.

 

Trong giáo lý mới đang dẫn dắt chính quyền Nga [7], dù có nhiều điểm khác biệt với những lời răn dạy truyền thống của phương Tây, vẫn có vài điều được giữ nguyên si. Thái độ của giai cấp cầm quyền đối với chủ đề “sự tôn nghiêm của lao động” gần như trùng khớp hoàn toàn với những gì các giai cấp thống trị xưa nay vẫn rao giảng cho đám người mà họ gọi là “kẻ nghèo lương thiện”. Sự cần cù, tính điều độ, lòng phục tùng chính quyền, chỉ khác là chính quyền nay được coi là đại diện cho ý chí của một Đấng Sáng Thế mang tên mới: Chủ nghĩa duy vật biện chứng [8].

 

[lược một đoạn]

 

Trong hiện tại, điều này hoàn toàn hợp lý: một đất nước rộng lớn, giàu tài nguyên, đang chờ được khai phá mà lại chỉ có rất ít nguồn tín dụng để làm việc đó. Nhưng rồi sẽ ra sao khi tới lúc mọi người đều có thể sống thoải mái mà không cần làm việc quá nhiều giờ? Ở phương Tây, ta có nhiều cách khác nhau để né tránh vấn đề này. Ta không nỗ lực gì cho công bằng kinh tế, để phần lớn của cải rơi vào tay một thiểu số chẳng làm gì cả. Ta thiếu điều tiết sản xuất nên làm ra vô số thứ chẳng cần thiết. Ta để phần lớn dân lao động nhàn rỗi bằng cách bắt người khác làm việc quá sức. Và khi tất cả những cách ấy vẫn chưa đủ, ta còn có chiến tranh: bắt người này sản xuất thuốc nổ, để người kia đi kích nổ, chẳng khác gì bọn trẻ con vừa khám phá ra trò pháo hoa.

 

Ở Nga, nhờ có công bằng kinh tế và sự điều tiết tập trung, giải pháp hợp lý là ngay khi nhu yếu phẩm đã đủ cho tất cả mọi người, hãy giảm dần giờ làm, để người dân tự quyết xem họ muốn thêm thời gian nhàn rỗi hay thêm của cải. Nhưng sau khi đã rao giảng biết bao về đức hạnh tối thượng của sự cần cù, thật khó mà hình dung giới cầm quyền có thể dẫn dắt dân chúng tới một thiên đường nơi có nhiều sự nhàn rỗi hơn và ít công việc hơn. Nếu điều đó không xảy ra, đó sẽ là hậu quả của việc coi đức hạnh cần cù như một mục đích tự thân, thay vì coi nó chỉ là phương tiện để đạt tới một trạng thái mà công việc không còn cần thiết nữa.

 

III

 

Sự thật là việc xê dịch vật chất quanh ta, dù ở một mức độ nhất định là cần cho sự tồn tại, chắc chắn không phải là một trong những cứu cánh tối hậu của đời người. Nếu đúng như vậy, ta sẽ phải coi một anh phu đào đất [9] là cao quý hơn cả Shakespeare. Ta bị dẫn lạc lối về điểm này bởi hai nguyên do: nhu cầu phải làm cho người nghèo cam chịu (điều khiến người giàu suốt hàng ngàn năm qua ra sức thuyết giảng về sự tôn nghiêm của lao động trong khi bản thân họ lại khéo léo giữ mình tránh xa cái “tôn nghiêm” ấy); và niềm say mê mới mẻ với cơ giới hóa, khiến ta thích thú trước những đổi thay kỳ diệu mà mình tạo ra trên bề mặt Trái Đất. Chẳng động cơ nào trong hai điều này có sức hút thật sự đối với người lao động chân tay. Nếu hỏi anh ta xem phần nào trong đời mình là tuyệt vời nhất, hẳn anh ta sẽ chẳng bao giờ nói rằng lao động khiến mình cảm thấy đang làm tròn sứ mệnh cao quý của một con người. Tôi chưa từng nghe người lao động nào nói như thế cả. Họ nhìn công việc, đúng như bản chất của nó, chỉ là một phương tiện cần thiết để mưu sinh, còn hạnh phúc, nếu có, thì họ sẽ tìm thấy trong những giờ nhàn rỗi.

 

[lược một đoạn]

 

Khi tôi đề nghị rút giờ làm xuống còn bốn tiếng mỗi ngày, tôi không có ý nói toàn bộ thời gian còn lại phải dành cho những trò tiêu khiển thuần túy. Ý tôi là bốn giờ lao động là đủ để mang lại những nhu yếu phẩm cơ bản, và phần thời gian còn lại hoàn toàn thuộc về mỗi người, để họ tự do sử dụng theo ý mình, với điều kiện giáo dục phải được đẩy xa hơn để trau dồi những thị hiếu giúp con người biết dùng thời gian nhàn rỗi một cách sáng suốt. Tôi không chủ yếu nghĩ tới những thứ hàn lâm cao siêu [10]. Niềm vui của người thành thị ngày nay phần lớn mang tính thụ động: xem phim, xem bóng đá, nghe đài, bởi năng lượng của họ đã bị công việc vắt kiệt. Nếu có thêm thời gian nhàn rỗi, hẳn họ sẽ lại tìm thấy niềm vui trong những thú tiêu khiển đòi hỏi nhiều sự chủ động hơn.

 

[lược một đoạn]

 

Trong một thế giới nơi mà không ai bị buộc phải làm việc quá bốn tiếng một ngày, bất kỳ ai mang trong mình sự tò mò khoa học cũng sẽ được thỏa sức theo đuổi nó, và bất kỳ họa sĩ nào cũng có thể vẽ mà không sợ chết đói. Các nhà văn trẻ sẽ không còn phải viết những tác phẩm giật gân, rẻ tiền [11] chỉ để mưu sinh, mà đánh mất nhiệt huyết cho những tác phẩm để đời. Các bác sĩ sẽ có thời gian cập nhật tiến bộ y học, và giáo viên sẽ không phải dạy lại theo thói quen những điều mà thời gian đã chứng minh là sai lầm.

 

Trên hết, sẽ có hạnh phúc và niềm vui sống, thay cho những dây thần kinh căng thẳng, sự mệt mỏi và chứng khó tiêu [12]. Vì không còn kiệt sức trong những giờ rảnh rỗi, con người sẽ không chỉ khao khát những trò giải trí thụ động. Những người đàn ông, phụ nữ bình thường, một khi có cơ hội sống một cuộc đời hạnh phúc, sẽ trở nên tử tế hơn, bớt hà khắc hơn, bớt nhìn người khác bằng con mắt nghi kỵ. Thị hiếu với chiến tranh cũng sẽ phai nhạt dần. Trong tất cả các phẩm chất đạo đức, sự tốt tính là điều thế giới này cần nhất, mà sự tốt tính lại chỉ nảy sinh từ sự an nhàn và an toàn, chứ không phải từ một cuộc sống gian khổ. Các phương pháp sản xuất hiện đại đã trao cho ta khả năng đem lại sự an nhàn, an toàn cho tất cả mọi người, ấy vậy mà ta lại chọn để một số người làm việc quá sức, còn số khác thì chịu đói khát. Cho tới nay, ta vẫn cứ hối hả chẳng khác gì thời chưa có máy móc. Về điều này, quả thật ta đã quá dại dột, nhưng chẳng có lý do gì để cứ mãi dại dột như vậy.

 

Ngân Hà trích dịch từ tiếng Anh

Ảnh: Bathers at Asnières - Georges Seurat

 


 

Chú thích

 

[1] Nhàn cư vi bất thiện: Nguyên văn Russell dẫn câu ngạn ngữ tiếng Anh “Satan finds some mischief still for idle hands to do” (đại ý: quỷ dữ luôn tìm được việc xấu cho những đôi tay nhàn rỗi). Trong tiếng Việt, “nhàn cư vi bất thiện” là cách nói gần nghĩa và quen thuộc nhất.

 

[2] Benito Mussolini (1883-1945), người đứng đầu chế độ phát xít Ý, nổi tiếng với việc kiểm soát gắt gao trật tự công cộng, trong đó có việc dẹp bỏ nạn ăn xin trên đường phố.

 

[3] Cách gọi mỉa mai của Russell dành cho quan niệm coi việc lao động cật lực là bổn phận thiêng liêng, gần như một tín điều tôn giáo.

 

[4] Cách Russell gọi những xã hội vận hành dựa trên việc cưỡng bức phần đông dân chúng lao động để nuôi một thiểu số cầm quyền.

 

[5] Nguyên văn là “meddlesome busybodies”, ý châm biếm giới phê bình thượng lưu vốn thích áp đặt chuẩn mực đạo đức lên đời sống người nghèo.

 

[6] Nguyên văn là “vicarious asceticism”, chỉ việc một người đòi hỏi kẻ khác phải sống khắc khổ trong khi bản thân mình không hề chịu cảnh đó.

 

[7] Vào thời điểm Russell viết bài (1932), Liên Xô đã theo đuổi chính sách đề cao lao động tập thể và xóa bỏ sở hữu tư nhân.

 

[8] Chủ nghĩa duy vật biện chứng là nền tảng triết học của chủ nghĩa Marx-Lenin, được lấy làm tư tưởng chính thống của nhà nước Liên Xô.

 

[9] Nguyên văn là “navvy”, từ lóng tiếng Anh chỉ người lao động chân tay làm những việc nặng nhọc như đào mương, đặt đường ray.

 

[10] Nguyên văn là “high-brow”, chỉ các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đòi hỏi trình độ học vấn cao mới thưởng thức được.

 

[11] Nguyên văn là “pot-boilers”, chỉ những tác phẩm được viết vội để bán chạy và kiếm sống qua ngày.

 

[12] Nguyên văn là “dyspepsia”, bệnh lý tiêu hóa mà Russell dùng như một hình ảnh tiêu biểu cho hậu quả thể chất của lối sống căng thẳng, làm việc quá sức.

Đang xem: Bertrand Russell: Ngợi Ca Sự Nhàn Rỗi

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
Giỏ Hàng