"Hãy làm những gì bạn yêu. Hãy yêu những gì bạn làm."
Gần như chẳng có gì phải bàn cãi khi “làm điều mình yêu” (Do What You Love - DWYL) giờ đây đã trở thành câu thần chú công sở không chính thức của thời đại chúng ta. Tuy nhiên, rắc rối với DWYL nằm ở chỗ nó không dẫn đến sự cứu rỗi, mà lại làm hạ thấp giá trị của công việc thực sự - và quan trọng hơn cả, nó phi nhân hóa đại đa số người lao động.
Nhìn thoáng qua, DWYL là một lời khuyên đầy tính khích lệ, thúc giục chúng ta suy ngẫm xem mình thích làm gì nhất và rồi biến hoạt động đó thành một cỗ máy hái ra tiền. Nhưng tại sao niềm vui của chúng ta lại cứ phải gắn liền với lợi nhuận? Và câu châm ngôn này rốt cuộc đang nhắm đến đối tượng khán giả nào?
DWYL là một cái bắt tay ngầm của tầng lớp đặc quyền, và là một thế giới quan ngụy trang thói tinh hoa chủ nghĩa của nó dưới lớp vỏ bọc hoàn thiện bản thân cao đẹp. Theo lối tư duy này, lao động không phải là thứ người ta làm để nhận thù lao, mà là một hành động của tình yêu. Nếu lợi nhuận không tự nhiên kéo đến, thì ắt hẳn là do đam mê và quyết tâm của người lao động chưa đủ độ chín. Thành tựu thực sự của nó là khiến người lao động tin rằng họ đang cống hiến cho chính bản thân mình chứ không phải cho thị trường.
Các câu châm ngôn thường có vô số nguồn gốc và các phiên bản tái sinh, nhưng bản chất của DWYL lại làm khó những nỗ lực truy vết tác giả chính xác. Từ điển Oxford Reference liên kết cụm từ này và các biến thể của nó với Martina Navratilova và François Rabelais, cùng với vài người khác. Cư dân mạng thì thường xuyên gán nó cho Khổng Tử, đặt nó vào một quá khứ Á Đông khói sương mờ ảo. Oprah Winfrey và những người "buôn bán sự tích cực" khác đã đưa quan niệm này vào vốn liếng diễn thuyết của họ suốt nhiều thập kỷ qua. Thậm chí giới tài chính cũng bắt trend DWYL: "Nếu bạn yêu những gì mình làm, thì đó không còn là 'công việc' nữa," như lời đồng CEO của quỹ đầu tư tư nhân Carlyle Group đã phát biểu trên đài CNBC.
Tuy nhiên, nhà truyền giáo quan trọng nhất của DWYL trong thời gian gần đây lại là cựu CEO Apple, Steve Jobs. Trong bài diễn văn tốt nghiệp tại Đại học Stanford năm 2005, Jobs đã kể lại quá trình sáng lập Apple và lồng ghép vào đó một suy ngẫm:
"Bạn phải tìm ra thứ mình yêu thích. Điều đó đúng với cả công việc lẫn người bạn yêu. Công việc sẽ chiếm một phần lớn trong cuộc đời bạn, và cách duy nhất để thực sự thỏa mãn là làm những gì bạn tin là tuyệt vời. Và cách duy nhất để làm nên những công việc tuyệt vời là yêu những gì mình làm."
Chỉ trong vỏn vẹn bốn câu, các từ "bạn" và "của bạn" xuất hiện tới tám lần. Việc xoáy sâu vào cá nhân này chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nó xuất phát từ Jobs, người đã kỳ công đắp nặn cho mình một hình ảnh rất đỗi đặc trưng trong tư cách người lao động: đầy cảm hứng, phóng khoáng, cuồng nhiệt - tất cả những trạng thái đều rất hợp rơ với một tình yêu lãng mạn lý tưởng. Jobs đã gộp chung cái bản ngã người lao động say sưa của mình với công ty một cách tài tình đến mức, chiếc áo cổ lọ màu đen và quần jeans của ông đã trở thành hình ảnh hoán dụ cho toàn bộ đế chế Apple và cả thứ sức lao động đang duy trì nó.
Nhưng bằng cách tô vẽ Apple như một thành quả lao động từ tình yêu của cá nhân ông, Jobs đã ngó lơ sức lao động của hàng chục ngàn người trong các nhà máy của Apple, bị khuất lấp ở phía bên kia bán cầu - thứ sức lao động thực sự đã cho phép Jobs hiện thực hóa tình yêu của mình.
Sự xóa sổ này cần phải được phơi bày. Mặc dù DWYL có vẻ vô hại và quý giá, nhưng nó lại quá tập trung vào bản thân đến mức ái kỷ. Phiên bản DWYL của Jobs thực chất là một sự đối lập đáng buồn với tầm nhìn không tưởng về lao động cho tất cả mọi người của Henry David Thoreau. Trong tiểu luận "Life Without Principle", Thoreau đã viết:
"...sẽ là một bài toán kinh tế khôn ngoan nếu một thị trấn trả lương cho người lao động hậu hĩnh đến mức họ không cảm thấy mình đang làm việc vì những mục đích thấp kém, kiểu như chỉ để kiếm miếng cơm manh áo, mà là vì những mục đích khoa học, hay thậm chí là đạo đức. Đừng thuê một kẻ làm việc cho bạn vì tiền, mà hãy thuê người làm việc đó vì tình yêu dành cho nó."
Phải thừa nhận rằng, Thoreau không có nhiều sự thấu cảm dành cho tầng lớp vô sản. (Thật khó để tưởng tượng ai đó đi giặt tã lót vì "những mục đích khoa học, hay thậm chí là đạo đức," bất kể được trả lương cao đến đâu). Nhưng dẫu vậy, ông vẫn khẳng định rằng xã hội có trách nhiệm trong việc đảm bảo công việc được đền đáp xứng đáng và có ý nghĩa. Ngược lại, quan điểm kiểu Jobs của thế kỷ 21 lại yêu cầu chúng ta hướng vào bên trong. Nó miễn trừ cho chúng ta mọi nghĩa vụ, hay thậm chí là sự công nhận, đối với thế giới rộng lớn ngoài kia.
Một hệ quả của sự cô lập này là sự chia rẽ mà DWYL tạo ra giữa những người lao động, phần lớn là dựa trên lằn ranh giai cấp. Công việc bị chia thành hai thái cực đối lập: những việc "đáng yêu" (sáng tạo, trí thức, có uy tín trong xã hội) và những việc "không đáng yêu" (lặp đi lặp lại, thiếu tính trí tuệ, mờ nhạt). Những người ở phe "công việc đáng yêu" được hưởng đặc quyền vượt trội về mặt tài sản, địa vị xã hội, giáo dục, sự thiên vị chủng tộc của xã hội, và sức ảnh hưởng chính trị, trong khi họ chỉ chiếm một bộ phận rất nhỏ trong lực lượng lao động.
Đối với những người bị ép phải làm những công việc "không đáng yêu", đó lại là một câu chuyện khác. Dưới thứ tín điều DWYL này, những lao động được thực hiện vì những động cơ hay nhu cầu khác ngoài tình yêu - thực chất lại là phần lớn sức lao động - đều bị xóa sổ. Giống như trong bài phát biểu ở Stanford của Jobs, những công việc chẳng lấy gì làm hay ho nhưng lại vô cùng cần thiết cho xã hội đã bị trục xuất hoàn toàn khỏi tâm trí chúng ta.
Hãy thử nghĩ về hằng hà sa số những công việc đã cho phép Jobs dành trọn dù chỉ một ngày dưới tư cách CEO. Thức ăn của ông được thu hoạch từ những cánh đồng, rồi được vận chuyển qua những chặng đường dài. Hàng hóa của công ty ông được lắp ráp, đóng gói, và bốc dỡ. Các quảng cáo của Apple được lên kịch bản, casting, và quay phim. Các vụ kiện tụng được xử lý. Sọt rác văn phòng được dọn sạch và hộp mực máy in được bơm đầy. Việc tạo ra việc làm diễn ra ở cả hai chiều. Ấy vậy mà, khi đại đa số người lao động thực chất đã trở nên tàng hình trong mắt giới tinh hoa đang bận rộn với những công việc "đáng yêu" của họ, thì làm sao có thể ngạc nhiên khi những áp lực nặng nề mà người lao động ngày nay phải đối mặt - mức lương chết đói, chi phí nhà trẻ cao ngất ngưởng, v.v. - gần như chẳng bao giờ được coi là những vấn đề chính trị, ngay cả đối với phe cấp tiến trong giai cấp thống trị?
Bằng cách phớt lờ phần lớn các công việc và phân loại phần còn lại thành tình yêu, DWYL có lẽ là một thứ ý thức hệ chống lại người lao động thanh lịch nhất hiện nay. Tại sao người lao động phải tập hợp lại và đòi hỏi quyền lợi giai cấp của mình nếu trên đời này làm gì có thứ gọi là "công việc"?
"Làm điều mình yêu" đã che đậy đi một sự thật rằng: việc có thể chọn một nghề nghiệp chủ yếu vì phần thưởng cá nhân vốn dĩ là một đặc quyền, một chỉ dấu của giai cấp kinh tế xã hội. Ngay cả khi một nhà thiết kế đồ họa tự do có bố mẹ lo học phí trường nghệ thuật và đồng ký tên thuê một căn hộ xịn sò ở Brooklyn, cô nàng vẫn có thể ban phát DWYL như một lời khuyên nghề nghiệp cho những kẻ đang thèm khát thành công của cô.
Nếu chúng ta tin rằng việc làm một doanh nhân ở Thung lũng Silicon, một người làm truyền thông cho bảo tàng hay một tay chân trong viện nghiên cứu (think-tank) là điều thiết yếu để được sống thật với chính mình, thì chúng ta sẽ nghĩ gì về đời sống nội tâm và những hy vọng của những người đang dọn dẹp phòng khách sạn và chất hàng lên kệ tại các siêu thị lớn? Câu trả lời là: chẳng nghĩ gì cả.
Ấy vậy mà, những công việc cực nhọc, lương thấp lại là thứ mà ngày càng nhiều người Mỹ đang và sẽ tiếp tục làm. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, hai nghề nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất được dự báo đến năm 2020 là "trợ lý chăm sóc cá nhân" và "trợ lý chăm sóc tại nhà", với mức lương trung bình năm 2010 lần lượt là 19.640 USD và 20.560 USD/năm. Việc nâng tầm một số loại nghề nghiệp nhất định lên thành một thứ gì đó "xứng đáng với tình yêu" tất yếu sẽ bôi nhọ sức lao động của những người đang làm những công việc chẳng lấy gì làm hào nhoáng nhưng lại giúp xã hội vận hành, đặc biệt là công việc mang tính sống còn của những người chăm sóc.
Nếu DWYL bôi nhọ hoặc làm cho một mảng lớn lực lượng lao động - những người cho phép chúng ta sống thoải mái và làm những gì mình yêu thích - trở nên vô hình một cách nguy hiểm, thì nó cũng gây ra những tổn hại to lớn cho chính những ngành nghề mà nó làm bộ như đang tôn vinh. Chẳng ở đâu mà câu thần chú DWYL lại tàn phá những tín đồ của nó dữ dội hơn là trong giới hàn lâm. Một nghiên cứu sinh Tiến sĩ trung bình vào giữa những năm 2000 đã từ bỏ những khoản tiền dễ kiếm từ ngành tài chính và luật pháp (bây giờ thì bớt dễ đi một chút) để thoi thóp bằng những khoản trợ cấp ít ỏi, hòng theo đuổi đam mê với thần thoại Bắc Âu hay lịch sử âm nhạc Afro-Cuban.
Phần thưởng cho việc đáp lại tiếng gọi thiêng liêng này là một thị trường việc làm hàn lâm, nơi khoảng 41% giảng viên Mỹ là các giáo sư thỉnh giảng - những giảng viên hợp đồng thường xuyên nhận mức lương bèo bọt, không phúc lợi, không văn phòng, không có sự đảm bảo công việc, và cũng chẳng có quyền lợi lâu dài gì tại những ngôi trường họ đang cống hiến.
Có nhiều lý do khiến các Tiến sĩ vẫn tiếp tục cung cấp sức lao động trình độ cao với mức lương rẻ mạt như vậy, bao gồm sự phụ thuộc vào lộ trình và những chi phí chìm để lấy được tấm bằng Tiến sĩ, nhưng một trong những yếu tố mạnh mẽ nhất là cái cách mà học thuyết DWYL đã cắm rễ quá sâu vào chốn hàn lâm. Hiếm có ngành nghề nào khác lại hòa quyện bản sắc cá nhân của người lao động một cách mật thiết với sản phẩm công việc của họ đến vậy. Bởi lẽ nghiên cứu hàn lâm "đáng ra" phải được thực hiện bằng tình yêu thuần khiết, nên những điều kiện thực tế và mức thù lao cho sức lao động này biến thành những vấn đề chỉ được nghĩ tới sau cùng, nếu may ra người ta còn thèm đếm xỉa đến.
Trong “Academic Labor, the Aesthetics of Management, and the Promise of Autonomous Work”, Sarah Brouillette đã viết về giới giảng viên học thuật rằng: "Niềm tin của chúng ta rằng công việc này mang lại những phần thưởng phi vật chất, và gắn bó với bản sắc của chúng ta hơn nhiều so với một công việc 'bình thường', đã biến chúng ta thành những nhân viên lý tưởng khi mục tiêu của giới quản lý là vắt kiệt tối đa giá trị sức lao động với một chi phí rẻ mạt nhất."
Nhiều học giả thích tự huyễn hoặc rằng họ đã né được môi trường làm việc kiểu công sở cùng những hệ giá trị đi kèm với nó, nhưng Marc Bousquet đã lưu ý trong bài tiểu luận “We Work” của ông rằng, giới hàn lâm thực chất lại đang cung cấp một mô hình kiểu mẫu cho việc quản lý doanh nghiệp:
Làm thế nào để bắt chước môi trường làm việc hàn lâm và khiến người ta làm việc với cường độ trí tuệ và cảm xúc cao độ suốt 50 hay 60 giờ một tuần mà chỉ nhận mức lương ngang ngửa hoặc thậm chí thấp hơn của một tay pha chế? Liệu có cách nào để khiến nhân viên của chúng ta ngất ngây trên bàn làm việc, lẩm bẩm "Tôi yêu những gì mình làm" khi phải đối mặt với khối lượng công việc ngày một lớn và những tờ séc tiền lương ngày một teo tóp? Làm thế nào để khiến nhân viên của chúng ta giống hệt như các giảng viên đại học, tự chối bỏ việc họ đang thực sự 'làm việc'? Làm thế nào để điều chỉnh văn hóa doanh nghiệp cho giống với văn hóa khuôn viên trường đại học, để lực lượng lao động của chúng ta cũng sẽ sa vào lưới tình với chính công việc của họ?
Không ai lập luận rằng những công việc thú vị nên bớt thú vị đi. Nhưng một công việc mang lại sự thỏa mãn về mặt cảm xúc thì vẫn cứ là một công việc, và việc thừa nhận nó như vậy chẳng hề làm hạ thấp giá trị của nó theo bất kỳ cách nào. Ngược lại, việc từ chối công nhận sự thật ấy lại đang mở toang cánh cửa cho sự bóc lột và gây tổn hại đến tất cả người lao động.
Trớ trêu thay, DWYL còn củng cố cho sự bóc lột ngay cả bên trong những ngành nghề được cho là "đáng yêu", nơi mà việc làm thêm ngoài giờ, bị trả lương thấp, hoặc lao động không công đang trở thành một trạng thái bình thường mới: các phóng viên bị yêu cầu kiêm luôn công việc của những nhiếp ảnh gia vừa bị sa thải, các chuyên viên truyền thông bị kỳ vọng phải lướt pin và tweet vào những ngày cuối tuần, 46% lực lượng lao động bị kỳ vọng phải check email công việc ngay cả trong những ngày nghỉ ốm. Chẳng có gì khiến cho sự bóc lột dễ dàng được nuốt trôi hơn là việc thuyết phục người lao động rằng họ đang làm điều mình yêu thích.
Thay vì nhào nặn ra một quốc gia với những người lao động tự chủ và hạnh phúc, kỷ nguyên DWYL của chúng ta lại chứng kiến sự trỗi dậy của các giáo sư thỉnh giảng và thực tập sinh không lương: những người bị thuyết phục làm việc với giá bèo bọt hoặc làm không công, hay thậm chí là làm việc trong tình trạng âm tiền. Điều này chắc chắn đúng với tất cả những thực tập sinh đang làm việc chỉ để đổi lấy tín chỉ đại học, hay những người thực sự đã phải bỏ tiền đấu giá để mua những suất thực tập đáng mơ ước tại các nhà mốt danh giá. (Valentino và Balenciaga nằm trong số ít các nhà mốt đã mang những suất thực tập kéo dài cả tháng ra bán đấu giá. Dĩ nhiên, là vì mục đích từ thiện). Như một cuộc điều tra đang diễn ra của tổ chức ProPublica đã tiết lộ, lực lượng thực tập sinh không lương đang có sự hiện diện ngày một lớn mạnh trong bức tranh lao động của nước Mỹ.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi thực tập sinh không lương lại nhan nhản ở những lĩnh vực hào nhoáng mà xã hội hằng khát khao, bao gồm thời trang, truyền thông và nghệ thuật. Những ngành công nghiệp này từ lâu đã quen với việc có hàng tá nhân viên sẵn sàng cống hiến để đổi lấy cái danh tiếng xã hội thay vì những đồng lương thực sự, tất cả đều nhân danh tình yêu. Tất nhiên, bị gạt ra khỏi những cơ hội này là đại bộ phận dân chúng: những người cần phải làm việc để kiếm sống. Sự chèn ép này không chỉ làm xơ cứng thêm sự tắc nghẽn trong dịch chuyển kinh tế và nghề nghiệp, mà còn cô lập các ngành công nghiệp này khỏi sự đa dạng trong tiếng nói mà lẽ ra xã hội có thể mang lại.
Và chẳng phải ngẫu nhiên mà những ngành công nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào thực tập sinh - thời trang, truyền thông và nghệ thuật - lại vô tình là những ngành bị nữ tính hóa, đúng như những gì Madeleine Schwartz đã viết trên tờ Dissent. Thêm một hệ quả tàn phá nữa của DWYL là cái cách nó vắt kiệt sức lao động của phụ nữ một cách tàn nhẫn để đổi lấy mức thù lao ít ỏi hoặc chẳng có đồng nào. Phụ nữ chiếm đa số trong lực lượng lao động giá rẻ hoặc không lương; với tư cách là những nhân viên chăm sóc, giảng viên thỉnh giảng và thực tập sinh không lương, họ áp đảo hoàn toàn nam giới. Điều gắn kết tất cả những công việc này lại với nhau, dù được thực hiện bởi những người chỉ có bằng phổ thông hay những người mang học vị Tiến sĩ, chính là niềm tin rằng đồng lương không nên là động lực chính để làm việc. Phụ nữ được kỳ vọng phải làm việc vì bản năng làm mẹ và luôn khao khát làm vừa lòng người khác; xét cho cùng, họ đã và đang làm những công việc chăm sóc con cái, chăm sóc người già và nội trợ không công kể từ thời xa xưa rồi. Và dẫu sao thì, nói chuyện tiền bạc cũng chẳng ra dáng thục nữ cho lắm.
Hãy làm những gì bạn yêu và bạn sẽ không phải làm việc một ngày nào trong đời! Trước khi đầu hàng trước sự ấm áp đầy mụ mị của lời hứa hẹn ấy, một điều tối quan trọng là phải tự hỏi bản thân: “Ai, chính xác là ai, được hưởng lợi từ việc khiến công việc có cảm giác như thể không phải là công việc?” “Tại sao người lao động lại phải cảm thấy như thể họ không làm việc trong khi họ thực sự đang làm?” Bằng cách che đậy các cơ chế bóc lột sức lao động mà chính nó đang tiếp nhiên liệu, DWYL, trên thực tế, là một công cụ ý thức hệ hoàn hảo nhất của chủ nghĩa tư bản. Nếu chúng ta chịu thừa nhận tất cả mọi công việc của mình đều là công việc, chúng ta có thể thiết lập những giới hạn hợp lý cho nó, đòi hỏi sự đền đáp công bằng và những lịch trình nhân đạo hơn để chừa lại quỹ thời gian cho gia đình và sự thư giãn.
Và nếu chúng ta làm được điều đó, nhiều người trong chúng ta có lẽ đã thực sự có thời gian rảnh rỗi để làm những gì mà mình thực sự yêu thích.
Tạp chí Jacobin, 12 tháng 1 năm 2014
HƯƠNG GIANG dịch

Kiểm tra đơn hàng