Italo Calvino: Tại Sao Nên Đọc Các Tác Phẩm Kinh Điển?

Italo Calvino: Tại Sao Nên Đọc Các Tác Phẩm Kinh Điển?

 

Italo Calvino (1923–1985) là một trong những nhà văn hư cấu hậu hiện đại vĩ đại nhất và là nhà luận thuyết có tầm ảnh hưởng sâu rộng của thế kỷ mười chín và hai mươi. Nổi tiếng với tư duy sắc sảo và dung hợp độc đáo, ông luôn nhìn nhận văn chương như một thế giới mới đầy những bất ngờ được kiến tạo bởi trí tuệ.

 

Tiểu luận “Tại sao nên đọc các tác phẩm kinh điển?” (Why Read the Classics?) ra đời năm 1981, sau đó được chọn làm tựa đề cho tuyển tập tiểu luận xuất bản sau khi ông qua đời vào năm 1991. Tác phẩm nhanh chóng trở thành một văn bản kinh điển bàn về nghệ thuật đọc, một kim chỉ nam dẫn lối cho bất kỳ ai muốn xây dựng mối liên kết đích thực với kho tàng tri thức nhân loại.

 


 

Tại Sao Nên Đọc Các

Tác Phẩm Kinh Điển?

 

 

Hãy bắt đầu bằng việc đưa ra một vài định nghĩa.


1. Kinh điển là những cuốn sách mà bạn thường nghe người ta nói: "Tôi đang đọc lại...", chứ không bao giờ là "Tôi đang đọc..."


Chí ít thì điều này đúng với những người được cho là "đọc nhiều hiểu rộng"; nó không áp dụng cho người trẻ, vì họ đang ở độ tuổi mà sự tiếp xúc của họ với thế giới, và với những tác phẩm kinh điển vốn là một phần của thế giới đó, mang ý nghĩa quan trọng chính bởi đó là lần tiếp xúc đầu tiên. Tiền tố lặp "đọc lại" (re-) đặt trước động từ "đọc" (-read) có thể đại diện cho một hành vi đạo đức giả nho nhỏ của những người cảm thấy xấu hổ khi phải thừa nhận mình chưa từng đọc một cuốn sách nổi tiếng. Để trấn an họ, ta chỉ cần chỉ ra rằng dẫu cho danh mục sách đọc rèn luyện bản thân của một người có đồ sộ đến đâu, thì vẫn luôn có một số lượng khổng lồ những tác phẩm nền tảng mà họ chưa từng động tới.


Hãy giơ tay lên nếu có ai đó đã đọc trọn vẹn Herodotus và Thucydides. Và cả Saint-Simon thì sao? Hay Hồng y Retz? Ngay cả những bộ tiểu thuyết đồ sộ của thế kỷ mười chín cũng thường được người ta nhắc đến nhiều hơn là thực sự đọc. Ở Pháp, người ta bắt đầu đọc Balzac từ lúc ngồi trên ghế nhà trường, và xét theo số lượng các ấn bản đang lưu hành, có vẻ như người ta vẫn tiếp tục đọc ông rất lâu sau khi đã rời ghế nhà trường. Nhưng nếu có một cuộc khảo sát chính thức về mức độ phổ biến của Balzac tại Ý, tôi e rằng ông sẽ nằm ở vị trí rất thấp trong danh sách. Những người hâm mộ Dickens ở Ý là một nhóm tinh hoa nhỏ bé, những người hễ cứ gặp nhau là bắt đầu hồi tưởng về các nhân vật và tình tiết như thể đang nói về những người họ thực sự quen biết.


Khi Michel Butor dạy học ở Hoa Kỳ cách đây nhiều năm, ông đã quá mệt mỏi với việc mọi người liên tục hỏi ông về Émile Zola, người mà ông chưa từng đọc, đến mức ông quyết định sẽ đọc toàn bộ chuỗi tiểu thuyết Rougon-Macquart. Ông phát hiện ra rằng nó hoàn toàn khác với những gì ông từng hình dung: nó hóa ra lại là một hệ phả tộc và một hệ vũ trụ quan mang tính thần thoại, tuyệt diệu, thứ mà sau này ông đã mô tả trong một bài viết xuất sắc.


Điều này cho thấy việc đọc một kiệt tác lần đầu tiên khi đã hoàn toàn trưởng thành là một niềm vui sướng tột bậc, một niềm vui rất khác (mặc dù không thể nói là vui sướng hơn hay kém hơn) so với việc đọc nó khi còn trẻ. Tuổi trẻ ban tặng cho mỗi lần đọc, cũng như cho mọi trải nghiệm, một hương vị và ý nghĩa độc nhất, trong khi ở độ tuổi chín chắn, người ta trân trọng (hoặc nên trân trọng) nhiều chi tiết, nhiều tầng bậc và ý nghĩa hơn. Do đó, chúng ta có thể thử nghiệm một cách diễn đạt khác cho định nghĩa của mình.


2. Kinh điển là những cuốn sách tạo nên một trải nghiệm vô giá đối với những ai đã đọc và yêu mến chúng; nhưng chúng cũng mang lại một trải nghiệm phong phú không kém đối với những ai để dành cơ hội đọc chúng cho đến khi họ ở trong trạng thái tốt nhất để thưởng thức chúng.


Bởi sự thật là những gì chúng ta đọc khi còn trẻ thường có thể mang lại ít giá trị vì chúng ta thiếu kiên nhẫn, không thể tập trung, thiếu kỹ năng đọc, hoặc vì chúng ta thiếu trải nghiệm sống. Việc đọc thuở hoa niên này có thể (có lẽ cùng lúc đó) mang tính kiến tạo theo đúng nghĩa đen ở chỗ nó tạo ra một hình thức hay hình hài cho những trải nghiệm tương lai của chúng ta, cung cấp cho chúng những khuôn mẫu, những cách thức đối phó, những tiêu chuẩn so sánh, những lược đồ để phân loại chúng, những thang bậc giá trị, những hệ hình về cái đẹp: tất cả những thứ vẫn tiếp tục vận hành bên trong chúng ta ngay cả khi ta nhớ rất ít hoặc chẳng nhớ gì về cuốn sách ta đã đọc khi còn trẻ. Khi chúng ta đọc lại cuốn sách ở độ tuổi trưởng thành, ta sẽ tái khám phá ra những hằng số này, những thứ giờ đây đã hình thành nên một phần trong các cơ chế nội tâm của chúng ta mặc dù ta đã quên mất chúng đến từ đâu. Tác phẩm chứa đựng một quyền năng đặc biệt có thể tự chìm vào quên lãng nhưng lại để lại hạt giống của nó bên trong chúng ta. Định nghĩa mà giờ đây ta có thể đưa ra là thế này:


3. Kinh điển là những cuốn sách thi triển một sức ảnh hưởng đặc biệt, cả khi chúng khắc sâu vào trí tưởng tượng của chúng ta như những điều không thể nào quên, và cả khi chúng ẩn nấp trong các tầng lớp của ký ức, ngụy trang dưới dạng vô thức cá nhân hay vô thức tập thể.


Vì lý do này, nên có một khoảng thời gian trong cuộc đời trưởng thành của mỗi người được dành riêng cho việc tái khám phá những cuốn sách quan trọng nhất thời tuổi trẻ của chúng ta. Dẫu cho những cuốn sách vẫn vậy (mặc dù chúng cũng thay đổi, dưới ánh sáng của một góc nhìn lịch sử đã đổi thay), chúng ta chắc chắn đã thay đổi, và do đó cuộc hội ngộ muộn màng này là hoàn toàn mới mẻ. Do đó, việc người ta dùng động từ "đọc" hay "đọc lại" thực ra không quá quan trọng. Thực tế ta có thể nói:


4. Một tác phẩm kinh điển là một cuốn sách mà mỗi lần đọc lại đều mang đến một cảm giác khám phá hệt như lần đọc đầu tiên.


5. Một tác phẩm kinh điển là một cuốn sách mà ngay cả khi ta đọc nó lần đầu tiên, nó vẫn mang lại cảm giác như đang đọc lại một thứ gì đó ta đã từng đọc trước đây.


Định nghĩa 4 ở trên có thể được coi là hệ quả của định nghĩa sau đây:


6. Một tác phẩm kinh điển là một cuốn sách chưa bao giờ vắt kiệt tất cả những gì nó muốn nói với độc giả của mình.


Trong khi định nghĩa 5 lại gợi ý một cách diễn đạt công phu hơn, chẳng hạn như thế này:


7. Kinh điển là những cuốn sách đến với chúng ta mang theo vầng hào quang của những cách diễn giải trước đó, và kéo theo sau chúng là những dấu vết mà chúng đã để lại trong nền văn hóa hay các nền văn hóa (hay chỉ đơn thuần là trong ngôn ngữ và phong tục) mà chúng đã đi qua.


Điều này áp dụng cho cả các tác phẩm kinh điển cổ đại lẫn hiện đại. Nếu tôi đọc Odyssey, tôi đọc văn bản của Homer nhưng tôi không thể quên tất cả những ý nghĩa mà các cuộc phiêu lưu của Ulysses đã mang lại trong suốt dòng chảy của các thế kỷ, và tôi không khỏi tự hỏi liệu những ý nghĩa này đã ngầm chứa trong văn bản gốc hay chúng là những sự bồi đắp, những sự biến dạng hoặc sự mở rộng sau này của nó. Nếu tôi đọc Kafka, tôi nhận thấy mình đang tán thành hoặc bác bỏ tính hợp lý của tính từ 'Kafkaesque' (kiểu Kafka) mà chúng ta liên tục nghe người ta sử dụng để chỉ hầu như bất cứ thứ gì. Nếu tôi đọc Cha và con của Turgenev hay Lũ người quỷ ám của Dostoevsky, tôi không khỏi suy ngẫm về cách mà các nhân vật trong những cuốn sách này đã liên tục được hóa thân trở lại mãi cho đến tận thời đại của chúng ta.


Việc đọc một tác phẩm kinh điển cũng hẳn phải làm chúng ta ngạc nhiên, khi ta so sánh nó với hình ảnh mà ta từng có về nó trước đây. Đó là lý do tại sao ta không bao giờ có thể khuyến nghị cho đủ việc phải trực tiếp đọc chính văn bản đó, tránh xa các thư mục tài liệu tham khảo thứ cấp, các bài bình luận và các cách diễn giải khác nhiều nhất có thể. Các trường học và trường đại học nên khắc sâu ý tưởng rằng không có cuốn sách nào bàn luận về một cuốn sách khác lại có thể nói nhiều điều hơn bản thân cuốn sách gốc đang được bàn luận; thế nhưng thực tế họ lại làm mọi cách để khiến sinh viên tin vào điều ngược lại. Ở đây có một sự đảo lộn các giá trị đang rất đỗi phổ biến, điều đó có nghĩa là phần giới thiệu, hệ thống bộ máy phê bình và thư mục tài liệu tham khảo được sử dụng như một bức màn khói để che đậy những gì văn bản muốn nói và những gì nó chỉ có thể nói nếu nó được phép tự lên tiếng mà không có những kẻ trung gian tự xưng là biết nhiều hơn chính bản thân văn bản. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng:


8. Một tác phẩm kinh điển là một tác phẩm không ngừng tạo ra một đám mây bụi tăm của những diễn ngôn phê bình xung quanh nó, nhưng lại luôn giũ sạch những hạt bụi đó đi.


Một tác phẩm kinh điển không nhất thiết phải dạy cho ta một điều gì đó mà ta chưa biết; đôi khi ta khám phá ra trong một tác phẩm kinh điển một điều gì đó mà ta vẫn luôn biết (hoặc luôn nghĩ là mình biết) nhưng lại không nhận ra rằng văn bản kinh điển đó đã nói điều ấy trước tiên (hoặc rằng ý tưởng đó được kết nối với văn bản ấy theo một cách đặc biệt). Và khám phá này cũng là một sự ngạc nhiên vô cùng thỏa mãn, như luôn luôn là vậy khi ta biết được nguồn gốc của một ý tưởng, hoặc mối liên hệ của nó với một văn bản, hoặc ai là người đã nói ra nó đầu tiên. Từ tất cả những điều này, ta có thể rút ra một định nghĩa như sau:


9. Kinh điển là những cuốn sách mà, ta càng nghĩ mình hiểu rõ chúng qua những lời đồn đại, ta lại càng thấy chúng nguyên bản, bất ngờ và đầy tính cách tân khi ta thực sự đọc chúng.


Dĩ nhiên điều này xảy ra khi một văn bản kinh điển "hoạt động" đúng như một tác phẩm kinh điển, tức là khi nó thiết lập được một mối quan hệ cá nhân với độc giả. Nếu không có tia lửa nào tóe lên, thì việc làm này là vô nghĩa: đọc các tác phẩm kinh điển vì ý thức nghĩa vụ hay vì sự tôn kính thì chẳng có ích gì, chúng ta chỉ nên đọc chúng vì tình yêu. Ngoại trừ ở trường học: trường học phải dạy cho bạn biết, dù bạn có thích hay không, một số lượng nhất định các tác phẩm kinh điển mà trong số đó (hoặc bằng cách sử dụng chúng làm thước đo) sau này bạn sẽ nhận ra những tác phẩm kinh điển của "riêng" bạn. Trường học có nghĩa vụ phải cung cấp cho bạn những công cụ để bạn có thể đưa ra lựa chọn của riêng mình; nhưng những lựa chọn duy nhất có giá trị là những lựa chọn bạn đưa ra sau khi hoặc bên ngoài mọi sự giáo dục của nhà trường.


Chỉ trong quá trình đọc không gượng ép, bạn mới tình cờ bắt gặp cuốn sách sẽ trở thành cuốn sách của "chính bạn". Tôi biết một nhà sử học nghệ thuật xuất chúng, một người đọc vô cùng uyên bác, nhưng trong số tất cả những cuốn sách ông đã đọc, ông lại yêu thích nhất cuốn The Pickwick Papers (Những câu chuyện của câu lạc bộ Pickwick), ông trích dẫn các câu từ cuốn sách của Dickens trong bất kỳ cuộc thảo luận nào, và liên hệ mọi sự kiện trong đời mình với các tình tiết trong cuốn Pickwick. Dần dà, chính bản thân ông, vũ trụ và triết lý đích thực của nó, tất cả đều đã mang hình hài của cuốn The Pickwick Papers trong một quá trình đồng nhất hóa hoàn toàn. Nếu đi theo con đường này, ta sẽ đi đến một ý niệm về tác phẩm kinh điển vô cùng cao cả và khắt khe:


10. Tác phẩm kinh điển là thuật ngữ dành cho bất kỳ cuốn sách nào đại diện cho toàn bộ vũ trụ, một cuốn sách ngang hàng với những tấm bùa hộ mệnh cổ xưa.


Một định nghĩa như thế này đưa chúng ta đến gần hơn với ý tưởng về cuốn sách toàn thư, một thể loại mà Mallarmé hằng mơ ước. Nhưng một tác phẩm kinh điển cũng có thể thiết lập một mối quan hệ mạnh mẽ không kém, không phải là mối quan hệ đồng nhất mà là sự đối lập hoặc sự phản đề. Tất cả những suy nghĩ và hành động của Jean-Jacques Rousseau đều thân thuộc với tôi, nhưng tất cả chúng lại khơi dậy trong tôi một sự thôi thúc không thể kìm nén là phải phản bác, chỉ trích và tranh luận với ông. Dĩ nhiên điều này có liên quan đến việc tôi thấy nhân cách của ông ấy quá đỗi trái ngược với tính khí của mình, nhưng nếu chỉ có vậy, tôi đã đơn giản là tránh việc đọc ông; trong khi thực tế tôi không thể không coi ông là một trong những tác giả của riêng tôi. Vậy thì, điều tôi muốn nói là thế này:


11. Tác phẩm kinh điển của "bạn" là một cuốn sách mà bạn không thể dửng dưng với nó, và là cuốn sách giúp bạn định hình bản thân mình trong mối tương quan hoặc thậm chí là trong sự đối lập với nó.


Tôi không tin mình cần phải biện minh cho việc sử dụng thuật ngữ 'kinh điển', vốn không hề có sự phân biệt nào về tính cổ xưa, văn phong hay tính uy quyền. (Về lịch sử của tất cả những ý nghĩa này của thuật ngữ, đã có một mục từ vô cùng thấu đáo về từ 'Classico' do Franco Fortini viết trong Bách khoa toàn thư Einaudi, tập III.) Để phục vụ cho lập luận của tôi ở đây, điều phân biệt một tác phẩm kinh điển có lẽ chỉ là một loại sự cộng hưởng mà ta cảm nhận được đang tỏa ra từ một tác phẩm cổ đại hay một tác phẩm hiện đại, nhưng là một tác phẩm có vị trí riêng của nó trong một chuỗi liên tục của văn hóa. Chúng ta có thể nói:


12. Một tác phẩm kinh điển là một tác phẩm ra đời trước các tác phẩm kinh điển khác; nhưng những ai đã đọc các tác phẩm kinh điển khác trước sẽ lập tức nhận ra vị trí của nó trong hệ phả tộc của những tác phẩm kinh điển.


Đến đây, tôi không thể trì hoãn thêm nữa cái vấn đề cốt lõi về việc làm thế nào để liên hệ việc đọc các tác phẩm kinh điển với việc đọc tất cả những văn bản khác không phải là kinh điển. Đây là một vấn đề gắn liền với những câu hỏi như: "Tại sao lại đọc các tác phẩm kinh điển thay vì đọc những tác phẩm sẽ mang lại cho ta sự hiểu biết sâu sắc hơn về chính thời đại của chúng ta?" và "Ta có thể tìm đâu ra thời gian và sự thanh thản trong tâm trí để đọc các tác phẩm kinh điển, khi mà ta đang bị nhấn chìm bởi trận hồng thủy của những ấn phẩm in ấn về hiện tại?"


Dĩ nhiên, về mặt giả thuyết, có thể tồn tại một độc giả may mắn nào đó có khả năng dành trọn vẹn "thời gian đọc sách" trong những ngày tháng của mình chỉ cho Lucretius, Lucian, Montaigne, Erasmus, Quevedo, Marlowe, cuốn Luận về Phương pháp, cuốn Wilhelm Meister của Goethe, Coleridge, Ruskin, Proust và Valéry, cùng với những chuyến viễn du thi thoảng vào thế giới của Murasaki hay các Trường ca của Iceland. Và hẳn là người đó có thể làm tất cả những việc này mà không cần phải viết bài phê bình cho một cuốn sách tái bản mới nhất, không phải gửi bài báo khoa học để tranh giành một chức danh giáo sư đại học, hay gửi bản thảo cho một nhà xuất bản khi hạn chót đã cận kề. Để chế độ này được duy trì mà không bị tạp nhiễm, người may mắn đó sẽ phải tránh việc đọc báo, và không bao giờ bị cám dỗ bởi cuốn tiểu thuyết mới nhất hay cuộc khảo sát xã hội học gần đây nhất. Nhưng vẫn còn phải xem xét xem một sự khắt khe như vậy có thể được biện minh đến mức độ nào hay thậm chí là có thực sự hữu ích hay không. Thế giới đương đại có thể tầm thường và mụ mẫm, nhưng nó luôn là cái bối cảnh mà trong đó chúng ta phải đặt bản thân mình vào để nhìn về phía sau hoặc hướng về phía trước.

 

Để có thể đọc các tác phẩm kinh điển, bạn phải xác định xem chính xác là bạn đang đọc chúng "từ" góc nhìn nào, nếu không thì cả độc giả lẫn văn bản đều có xu hướng trôi dạt trong một màn sương mù vô thời gian. Vì vậy, những gì chúng ta có thể nói là người gặt hái được lợi ích tối đa từ việc đọc các tác phẩm kinh điển là người biết luân phiên một cách khéo léo giữa những tác phẩm kinh điển và những liều lượng được tinh chỉnh của các tài liệu đương đại. Và điều này không nhất thiết phải giả định về một người sở hữu một sự tĩnh tại hài hòa trong nội tâm: nó cũng có thể là kết quả từ một tính khí thiếu kiên nhẫn, dễ kích động, của một người luôn luôn bức bối và bất mãn.


Có lẽ lý tưởng nhất là lắng nghe hiện tại như một tiếng ồn bên ngoài cửa sổ của chúng ta, cảnh báo ta về những vụ tắc đường và những biến đổi thời tiết bên ngoài, trong khi ta vẫn tiếp tục theo dõi diễn ngôn của các tác phẩm kinh điển đang vang lên rõ ràng và rành rọt bên trong căn phòng của mình. Nhưng đối với hầu hết mọi người, việc có thể nghe thấy các tác phẩm kinh điển như một tiếng vọng xa xôi, nằm bên ngoài căn phòng đang bị lấp đầy bởi hiện tại giống như một chiếc tivi đang bật ở mức âm lượng lớn nhất, đã là một thành tựu rồi. Do đó chúng ta nên nói thêm rằng:


13. Một tác phẩm kinh điển là một tác phẩm đẩy lùi tiếng ồn của hiện tại thành một tiếng rì rầm làm nền, thứ mà đồng thời các tác phẩm kinh điển cũng không thể tồn tại nếu thiếu vắng nó.


14. Một tác phẩm kinh điển là một tác phẩm vẫn kiên trì tồn tại như một tiếng ồn nền ngay cả khi một hiện tại hoàn toàn không tương thích với nó đang nắm quyền thống trị.


Có một thực tế là việc đọc các tác phẩm kinh điển dường như luôn mâu thuẫn với nhịp sống của chúng ta, vốn không thể dung thứ cho những khoảng thời gian dài dằng dặc, hay không gian dành cho sự nhàn rỗi mang tính nhân văn (humanist otium); và cũng mâu thuẫn với tính chiết trung trong nền văn hóa của chúng ta, vốn sẽ chẳng bao giờ có khả năng phác thảo ra một danh mục các tác phẩm kinh điển sao cho phù hợp với chính thời đại của mình. Đổi lại, đây lại chính xác là những điều kiện trong cuộc sống của Leopardi: sống trong tòa lâu đài của cha mình (cái 'paterno osteillo' của ông), ông có thể theo đuổi sự sùng bái đối với nền văn hóa Hy Lạp và La Mã cổ đại bằng thư viện khổng lồ của người cha Monaldo, mà ông đã bổ sung thêm vào đó toàn bộ nền văn học Ý cho đến thời điểm đó, và tất cả nền văn học Pháp ngoại trừ tiểu thuyết và những tác phẩm được xuất bản gần đây nhất, vốn bị đẩy ra rìa, để dành làm thú tiêu khiển cho em gái ông ("Stendhal của em" là cách ông nhắc về vị tiểu thuyết gia người Pháp này với Paolina). Giacomo đã thỏa mãn ngay cả những sự say mê khoa học và lịch sử mãnh liệt nhất của mình bằng những văn bản chưa bao giờ là thực sự "cập nhật", ông đọc về tập tính của các loài chim trong sách của Buffon, về những xác ướp của Frederik Ruysch trong sách của Fontenelle, và những chuyến du hành của Columbus trong sách của Robertson.


Ngày nay, một nền giáo dục cổ điển kiểu như vị Leopardi trẻ tuổi từng được thụ hưởng là điều không thể tưởng tượng nổi, đặc biệt là khi thư viện của cha ông, Bá tước Monaldo, đã bị phân rã. Bị phân rã cả theo nghĩa là những tựa sách cũ đã bị tàn lụi, và theo nghĩa là những tựa sách mới đã sinh sôi nảy nở trong tất cả các nền văn học và văn hóa hiện đại. Tất cả những gì có thể làm là mỗi người trong chúng ta hãy tự kiến tạo nên một thư viện lý tưởng của riêng mình về những tác phẩm kinh điển; và tôi muốn nói rằng một nửa trong số đó nên bao gồm những cuốn sách ta đã đọc và đã có một ý nghĩa nào đó đối với ta, và nửa còn lại là những cuốn sách ta dự định đọc và ta cho rằng chúng có thể sẽ mang một ý nghĩa nào đó đối với ta. Chúng ta cũng nên để lại một khu vực với những khoảng trống dành cho những sự ngạc nhiên và những sự tình cờ khám phá. Tôi nhận thấy rằng Leopardi là cái tên duy nhất từ nền văn học Ý mà tôi đã trích dẫn. Đây là hệ quả từ sự phân rã của thư viện.


Giờ đây lẽ ra tôi nên viết lại toàn bộ bài viết này để làm cho thật rõ ràng rằng các tác phẩm kinh điển giúp chúng ta thấu hiểu ta là ai và điểm mà ta đã đạt tới, và do đó các tác phẩm kinh điển của Ý là không thể thiếu đối với những người Ý chúng tôi để so sánh chúng với các tác phẩm kinh điển nước ngoài, và các tác phẩm kinh điển nước ngoài cũng không thể thiếu không kém để chúng tôi có thể lấy chúng làm thước đo với các tác phẩm kinh điển của Ý. Sau đó, thực sự tôi nên viết lại nó lần thứ ba, để người ta không tin rằng các tác phẩm kinh điển phải được đọc vì chúng phục vụ cho một mục đích nào đó. Lý do duy nhất có thể được đưa ra để bênh vực chúng là việc đọc các tác phẩm kinh điển thì luôn luôn tốt hơn là không đọc chúng. Và nếu có ai phản bác rằng chúng không đáng để bỏ ra chừng ấy công sức, tôi sẽ trích dẫn Cioran (chưa phải là một tác giả kinh điển, ít nhất là chưa phải bây giờ, nhưng là một nhà tư tưởng đương đại mới chỉ bắt đầu được dịch sang tiếng Ý gần đây):

 

"Trong khi chén thuốc độc đang được chuẩn bị, Socrates vẫn đang học một điệu sáo mới. 'Điều đó sẽ có ích gì cho ngài chứ?', người ta hỏi ông. 'Ít nhất thì ta cũng sẽ học được giai điệu này trước khi chết.'"

 

Hương Giang dịch

Đang xem: Italo Calvino: Tại Sao Nên Đọc Các Tác Phẩm Kinh Điển?

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
Giỏ Hàng