Kenzaburo Oe: Văn Chương Nhật Bản Hiện Đại Và Bây Giờ

Kenzaburo Oe: Văn Chương Nhật Bản Hiện Đại Và Bây Giờ

Hội thảo Văn chương Wheatland, San Francisco, 1990

 

Văn chương Nhật Bản hiện đại có thể coi là đã khởi sự từ cuộc "hiện đại hóa" của Nhật Bản, tức là từ cuộc Cải cách Minh Trị năm 1868. Sự kiện này đánh dấu một bước khởi đầu mới cho đất nước, vươn mình ra khỏi một chế độ phong kiến để bước vào hình thái của một quốc gia - dân tộc tập trung vào quyền lực tuyệt đối của Thiên hoàng. Nó không đơn thuần là một cuộc cải cách chính trị nội bộ; đúng hơn, cuộc Cải cách đã đặt Nhật Bản vào một bối cảnh quốc tế. Bằng cách đó, xét trên cả hai phương diện đối nội và đối ngoại, đất nước đã trải qua một sự phát triển lớn lao, đồng thời đối mặt với một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Giới trí thức thời bấy giờ đã nhận ra nhu cầu cấp thiết về một thứ văn ngôn diễn ngôn có thể cất lên tiếng nói riêng cho người Nhật của thời đại mới, và họ đã nỗ lực kiến tạo nên nó. Trong cái nỗ lực ấy chính là buổi bình minh của cái có thể gọi là văn chương Nhật Bản hiện đại.


Những người tiên phong của nền văn chương này, khi ấy, là những nhà trí thức mang trên mình một sứ mệnh, dẫu vậy tất cả họ đều sở hữu một vốn ngôn ngữ và một cảm thức được hun đúc từ nền giáo dục kinh điển Hán học. Trên nền tảng đó, họ bồi đắp thêm những nghiên cứu khác, chẳng hạn như về văn chương Nga, Đức, Pháp và Anh. Bản thân họ đã tự mình thực hiện các bản dịch tác phẩm Châu Âu, và dùng chúng như một phương tiện để sáng tạo nên một lối diễn ngôn cho thời đại mới, sau khi đã cắt đứt các mối dây liên hệ với các quy phạm văn chương truyền thống. Trong số đó có những trí thức như Futabatei Shimei, người tinh thông văn chương Nga; Mori Ogai, người nghiên cứu tiếng Đức và tiếng Pháp; và Natsume Soseki, người uyên bác về văn chương Anh. Bởi thế, ở Nhật Bản tồn tại một mạch ngầm văn chương tự sự kéo dài hơn một trăm năm, nối kết công trình của những trí thức thời Minh Trị này với các nhà văn đương đại.


Quốc gia - dân tộc hiện đại Nhật Bản tiếp tục đánh dấu sự trôi chảy của thời gian bằng cách sử dụng các niên hiệu mà giá trị lưu hành của chúng chỉ gói gọn trên đất Nhật, những niên hiệu như Minh Trị (1868-1912), Đại Chính (1912-1925), và Chiêu Hòa (1925-1989). Và cái chết của Thiên hoàng Chiêu Hòa vào năm 1989 đã phơi bày sức mạnh của hệ thống ẩn dụ này, nơi mà tên gọi ấn định cho các thời kỳ thay đổi theo sự ra đi của một vị Thiên hoàng, dẫn đến một ấn tượng sâu sắc chung trong công chúng rằng một giai đoạn lịch sử riêng biệt đã khép lại. Sự kết thúc của thời Chiêu Hòa đặc biệt có ý nghĩa bởi vì thời kỳ này kéo dài hơn bất kỳ thời kỳ nào khác kể từ khi đất nước hiện đại hóa, nhưng cũng bởi vì nó ghi dấu những chuyển biến sâu sắc và phức tạp nhất.


Cái gì đã khép lại? Theo cách nhìn chung của mọi người, đó là một giai đoạn sáu mươi tư năm chứng kiến sự dấy lên và sụp đổ của chủ nghĩa phát xít; cuộc xâm lược Trung Hoa và cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương theo sau; sự thất trận và, ở tâm điểm của sự tàn phá, là quả bom nguyên tử; sự phục hưng, đất nước được dựng xây lại trên đống tàn tro; và sự thịnh vượng về kinh tế. Một góc nhìn khác, thiểu số hơn, chỉ đơn thuần coi sự kết thúc của thời Chiêu Hòa đồng nghĩa với sự khép lại của thời kỳ hậu hiện đại.


Khi tôi ngẫm nghĩ lại về "Chiêu Hòa" trong mối tương quan với những trang viết đương đại hay trong bối cảnh rộng lớn hơn về mối nối kết giữa sự thành lập một quốc gia - dân tộc hiện đại và sự ra đời của văn chương hiện đại ở thế kỷ XIX, dường như mang tính biểu tượng khi nhà văn Ooka Shohei qua đời ngay trước Thiên hoàng Chiêu Hòa. Và, khi khắc ghi trong tâm khảm vai trò cốt yếu mà các nhà văn và trí thức đã đóng trong tiến trình này, dường như thật giàu ngụ ý khi cuốn sách mà Ooka hoàn thành vào cuối đời lại là một tập hợp các bài phê bình về nhà văn thời Minh Trị Natsume Soseki. Ooka, người đại diện trọn vẹn cho văn phong của thời đại chúng ta, cho đến phút cuối đời vẫn nhìn về Soseki với một niềm ngưỡng vọng khôn nguôi. "Một khi nó đã bấu chặt lấy ông," Ooka viết, "ông đã thoi thóp đi lại một cách bệnh lý giữa Phương Tây và Nhật Bản. Như một hiện tượng văn chương thuộc loại hiếm hoi nhất, cuộc đời của Soseki là một nguồn cảm hứng dạt dào." Dẫu ông là một nhà văn thời Minh Trị, phải đến tận năm 1925, năm đầu tiên của thời Chiêu Hòa, các tác phẩm của Soseki mới bắt đầu xuất hiện rộng rãi dưới dạng các bản in bỏ túi bình dân, và từ đó được phát hành sâu rộng. Từ thời điểm đó cho đến cuối thời Chiêu Hòa, Soseki là tác giả được đọc nhiều nhất bởi mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản. Nhìn lại xa tận thời Cải cách Minh Trị, và suy ngẫm về toàn bộ công cuộc hiện đại hóa của Nhật Bản cho đến tận ngày nay, người ta chỉ có thể trả lời cho câu hỏi "Ai là nhà văn quốc gia của Nhật Bản?" bằng cách xướng lên cái tên Natsume Soseki.


Giống như hầu hết các tiểu thuyết giai đoạn sau của ông, Sorekara (tựa Việt: Từ dạo ấy), viết năm 1909, là một bức tranh phác họa giới tư sản Tokyo thời bấy giờ, và thông qua tiếng nói của nhân vật trí thức chính, ông đã tung ra một đòn công kích vào các giá trị văn hóa hiện hành, cái mà người ta có thể gọi là sự phê phán bản sắc quốc gia, hay nihonjinron. Công cuộc hiện đại hóa đã đưa Nhật Bản tiếp xúc với Phương Tây, và sau chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Nga - Nhật, người dân Nhật Bản đã trở thành tù nhân của một niềm khao khát - được kích động bởi thế giới bên ngoài - hướng tới những lợi ích vật chất. Cùng lúc đó, những đòi hỏi khắt khe về đạo đức lại suy vi. Sự phê phán của Soseki, tuy nhiên, không chỉ chĩa vào sự đuổi theo Phương Tây về mặt kinh tế của Nhật Bản; ông còn phê phán cả những điều kiện sống cơ bản (như sự nhếch nhác của những nếp nhà con người), vốn dĩ đã thực sự tồi tệ đi trong tiến trình hiện đại hóa.


Giống như Soseki, người từng đọc rất sâu văn chương Anh, Ooka cũng rất am tường văn chương ngoại quốc, đặc biệt là văn chương Pháp. Hơn thế nữa, Ooka đã có một cuộc va chạm với Phương Tây - cụ thể là Nước Mỹ - dữ dội hơn nhiều so với bất kỳ trải nghiệm nào của Soseki, bởi ông từng bị lực lượng Mỹ bắt làm tù binh ở Philippines. Từ sự thất trận trong Chiến tranh Thái Bình Dương cho đến sự bùng nổ kinh tế của những năm 1980 (điều chưa từng xuất hiện trong bất kỳ lời tiên báo nào của Soseki về tương lai Nhật Bản), Ooka là nhà văn và trí thức đại diện nhất cho thời đại, người mà sự phê phán văn hóa được tin cậy nhất. Việc Ooka tiếp tục viết về Soseki chắc chắn phải vì trong những năm 1980, ông thấy mình rơi vào một vị thế tương tự như Soseki về mặt nhận thức rằng các vấn đề đạo đức đang bị bỏ mặc trong khi những thèm khát vật chất lại đang được kích động bởi "bên ngoài". (Người ta đều biết rõ rằng một số kẻ tiêu thụ hàng hiệu phương Tây lớn nhất chính là giới trẻ Nhật Bản). Tương tự như vậy, bất chấp tầm vóc sức mạnh kinh tế của Nhật Bản vươn ra đấu trường quốc tế, điều kiện sống trong nước vẫn nhếch nhác, đặc biệt là ở một đô thị lớn như Tokyo, nơi từng dễ sống hơn nhiều vào thời của Soseki.


Có thể nói rằng từ Soseki qua Ooka, những trang viết bởi và dành cho giới trí thức (những người mà nền giáo dục dựa trên việc nghiên cứu Phương Tây) đại diện cho một mạch ngầm xuyên suốt kéo dài cả một thế kỷ lịch sử văn chương. Dẫu vậy, chính trong thời kỳ sau thất trận - thời kỳ của "trường phái hậu chiến" trong văn chương - mà bản sắc của "văn chương trí thức" mới lộ diện rõ nét nhất. Và bởi vì Shohei Ooka là người đại diện nhất cho những nhà văn này, chúng ta có thể nói thêm rằng tinh thần của văn chương hậu chiến vẫn là một lực lượng sống động và một sự hiện diện cụ thể cho đến khi Ooka qua đời vào cuối những năm 1980.


Đến năm 1945, trận ném bom nguyên tử đã biến các thành phố Hiroshima và Nagasaki thành tro tàn, nhưng đó cũng là số phận của Tokyo cùng các khu vực đô thị khác. Cả đất nước quằn quại trong nạn đói. Thế nhưng, lần đầu tiên, tự do ngôn luận được xác lập và bảo chứng, và cùng với nó, nguồn năng lượng văn chương bị dồn nén bấy lâu đã bùng nổ dữ dội. Những nhân vật hàng đầu trên văn đàn hậu chiến đã bắt tay vào một cuộc tái đánh giá triệt để chính xã hội của họ sau tất cả những tai họa mà nó đã gây ra ở châu Á. Những năm giữa 1945 và sự tăng trưởng kinh tế của những năm sáu mươi là một giai đoạn được ghi dấu bởi thực tế rằng, trong khi con người gặp khó khăn chật vật nhất để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, thì các vấn đề đạo đức được xới lên trong văn chương thời kỳ đó lại đạt đến đỉnh triều dâng cao nhất.


Nhiều nhà văn hậu chiến, như đã được chứng minh qua sự tham gia của họ vào phong trào rộng lớn chống lại Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật vào những năm 1960, đã chia sẻ những quan điểm chính trị tiến bộ. Để phản ứng lại những quan điểm đang áp đảo này, Yukio Mishima, người thuộc cùng một thế hệ, vì sự kết hợp của các lý do cá nhân và chính trị (vốn dĩ càng trở nên rõ nét trong hành vi đánh dấu những năm cuối đời của ông) đã thực hành và tuyên cáo một thứ chủ nghĩa dân tộc biệt lập. Dẫu vậy, dù Mishima và các đồng nghiệp văn chương của ông đang chuyển động theo các hướng tư tưởng đối lập, trong niềm khát khao chung muốn các giá trị đạo đức được ưu tiên hơn các giá trị vật chất, họ đã cùng nhau hé mở một đặc tính nổi bật trong những trang viết của những năm tháng ấy, một đặc trưng của văn chương nghiêm túc có nguồn gốc sâu xa từ thời Soseki.


Như người ta có thể kỳ vọng, thứ "văn chương trí thức" này phụ thuộc vào một độc giả trí thức. Văn chương hậu chiến nói riêng, đại diện cho bằng chứng về một sự tự do ngôn luận mới, đã thu hút những độc giả tri thức thuộc đủ mọi tầng lớp. Tranh luận với các nhà văn về những chủ đề chung, các nhà lý luận chính trị, nhà kinh tế học và các nhà khoa học cũng đã đóng góp cho các tạp chí văn chương thời đó và giúp khơi dậy sự quan tâm của một công chúng đọc sách đầy suy ngẫm.


Thế nhưng phải cay đắng thừa nhận rằng khi sự tàn phá của thời kỳ ngay sau chiến tranh nhường chỗ cho sự phục hồi của những năm 1950, và rồi đến giai đoạn giãn nở kinh tế hướng tới sự thịnh vượng rõ rệt của những năm bùng nổ, văn chương đã dần mất đi sức hút trí thức đối với phần lớn dân chúng. Hãy thử ngẫm nghĩ một chút về ngành xuất bản. Đúng là năm tập san văn chương hàng tháng vẫn tiếp tục xuất hiện. Trong đó chúng ta vẫn tìm thấy những truyện ngắn - một thể loại cốt tủy cho bản sắc của văn chương Nhật Bản. Việc nhiều tiểu thuyết dài xuất hiện lần đầu dưới hình thức này, theo từng kỳ hàng tháng, cũng là một thông lệ phổ biến. Thế nhưng hiện tại, tất cả các tạp chí văn chương này đều đang hoạt động trong tình trạng thua lỗ. Các khoản lỗ được bù đắp theo hai cách: bằng doanh số bán hàng thành công của cuốn sách bước ra từ các kỳ đăng tải và được xuất bản như thể từ cùng một dạ con - bởi cùng một công ty xuất bản; và đáng chú ý là bởi việc công ty xuất bản một lượng lớn các sản phẩm giải trí thuần túy, bao gồm cả các cuốn truyện tranh manga phổ cập khắp nơi.


Và thế là văn chương nghiêm túc cùng một nhóm công chúng đọc sách văn chương đã rơi vào một sự suy thoái mãn tính, trong khi một xu hướng mới lại dấy lên trong vài năm qua. Hiện tượng mới kỳ quặc này phần lớn mang tính kinh tế, phản ánh qua thực tế rằng các tiểu thuyết của một số nhà văn trẻ như Haruki Murakami và Banana Yoshimoto mỗi cuốn bán được hàng trăm nghìn bản. Rất có thể doanh số bán sách gần đây của riêng hai tác giả này hợp lại còn lớn hơn doanh số của tất cả các tiểu thuyết gia còn sống khác cộng lại. Ở đây chúng ta thấy sự bùng nổ kinh tế của Nhật Bản đang tự làm cho mình cảm nhận được trên thị trường văn chương. Trái ngược với phần lớn văn chương hậu chiến vốn tiểu thuyết hóa trải nghiệm thực tế của các nhà văn và độc giả - những người ở độ tuổi hai mươi và ba mươi từng nếm trải chiến tranh - Murakami và Yoshimoto truyền tải trải nghiệm của một giới trẻ đứng ngoài hoặc chán chường với chính trị, hài lòng với việc tồn tại bên trong một tiểu văn hóa thanh thiếu niên muộn hoặc hậu thanh thiếu niên. Và tác phẩm của họ gợi lên một sự phản hồi cận kề với sự sùng bái ở các độc giả trẻ tuổi. Nhưng còn quá sớm để tiên đoán xu hướng này sẽ dẫn đến đâu khi họ già đi. Liệu công chúng được tập hợp và vun trồng bởi những người như Murakami và Yoshimoto có trở thành lực lượng nòng cốt chung cho tiểu thuyết Nhật Bản? Hay liệu công chúng đọc sách này, cùng với những nhà văn được họ sủng ái, sẽ cùng biến mất với chính tiểu văn hóa của họ?


Để công bằng với tác phẩm gần đây của Yoshimoto, phải nói rằng nó phản ánh một cách trung thực các thói quen và thái độ của giới trẻ Nhật Bản, một văn hóa trẻ mà bề ngoài giống với các đồng nghiệp của nó ở New York hay Paris. Tiểu thuyết của cô ít nhất là một sự bộc lộ không khiên cưỡng của chính thế hệ cô. Nhưng trong trường hợp của Murakami, một nhà văn ở độ tuổi bốn mươi và theo nghĩa đó là một thế hệ già hơn Yoshimoto, chúng ta lại có một sự thể hiện vô cùng tự giác về các thói quen văn hóa đương đại. Murakami cũng là một độc giả chu đáo của văn chương Mỹ hiện đại cũng như một dịch giả đã chuyển ngữ chủ nghĩa tối giản của Mỹ sang một văn phong tự sự Nhật Bản đầy ấn tượng. Trên khía cạnh này, ông đại diện cho một "nhà văn trí thức" theo dòng chảy của Soseki và Ooka. Thế nhưng Murakami, trong việc thu phục một lượng độc giả vô cùng rộng lớn và cuồng nhiệt, đã đạt được điều mà cho đến nay vẫn nằm ngoài tầm với của các nhà văn trí thức chân chính khác, dẫu cho họ có rút lấy cảm hứng tư tưởng hay phong cách từ các sáng tác đương đại của Châu Âu và Châu Mỹ đến đâu đi chăng nữa.


Dẫu vậy, trong khi Yoshimoto và Murakami là những nhân vật nổi bật trên bề mặt văn đàn, tôi xin thu hút sự chú ý của quý vị đến một xu hướng mới khác, vốn dĩ tồn tại như một mạch ngầm. Một số nhà văn đương đại nghiêm túc, ngay cả khi họ đang trải qua một mùa đông giá lạnh của doanh số bán hàng sụt giảm, vẫn đang tích tụ một cảm thức về sức mạnh và hiệu năng thực sự của văn chương, thứ mà nhiều người tiền nhiệm của họ không sở hữu. Và trong tay họ, nếu họ tiếp tục làm việc với sự kiên định, một công chúng trí thức rộng lớn rất có thể sẽ quay trở lại với họ trước khi quá muộn. Trong số những người tôi nghĩ đến có Kobo Abe, một trong những nhân vật lớn đầu tiên xuất hiện sau chiến tranh, người hoạt động trên một cấp độ cố tình tách rời khỏi truyền thống Nhật Bản, và tiếp tục kiến tạo những thế giới hư cấu vốn dĩ, dẫu cho chúng có vẻ trừu tượng đến đâu, vẫn tràn ngập cái nhìn cá nhân nhưng đích thực của Abe về cuộc sống đương đại. Ngoài ra Furui Yoshikichi, người kém Abe mười tuổi, đã vận dụng trí tưởng tượng của mình vào công việc nối kết cảnh quan nội tâm của những công dân bị tha hóa, sống trong một xã hội đô thị đại chúng, với cảm thức về sống và chết của người Nhật thời cổ đại hay trung đại.


Trong số những nhà văn còn trẻ hơn nữa, tôi xin nhắc đến Nakagami Kenji, người mà văn phong theo năm tháng đã mang một độ đặc quánh và cấu trúc sâu sắc, khi ông định hình cho một lãnh địa nằm bên lề cuộc sống Nhật Bản, lãnh địa của một tầng lớp bị hắt hủi trước đây, phơi bày những chiều kích mang tính huyền thoại của họ. Người bạn cùng thời với Nakagami, Tsushima Yuko, đã thành công trong việc kiến tạo nên một lối văn ngôn diễn ngôn đủ sức khắc họa người phụ nữ - sau hơn một thế kỷ trải qua công cuộc "hiện đại hóa" - trên cả hai tầng bậc: tầm mức phổ quát nhân sinh và nhịp sống đời thường nhật. Và Shimada Masahiko, khi mới bước vào tuổi đôi mươi, đã bắt tay đẻ ra một bản ghi chép hư hư thực thực sinh động, vận dụng một văn phong giễu nhại được mài giũa sắc bén bởi một ý định phê phán cay đắng, về chính thế hệ mà thái độ văn hóa của họ đã được chép lại trong các trang viết của Murakami và Yoshimoto.


Những vấn đề lịch sử và xã hội nào đã gây dựng nên mạch ngầm mới mẻ này trong nền văn chương Nhật Bản? Giờ đây khi thời Chiêu Hòa đã khép lại, những trang viết nghiêm túc rồi sẽ đi về đâu? Lời giải đáp của chúng ta cần phải tính đến cả cách thức mà cuộc hiện đại hóa cùng nền văn chương hiện đại đã hình thành, tính từ cuộc Cải cách Minh Trị trở đi.


Hãy thử ngẫm nghĩ về một thực tế rằng trong suốt hầu hết giai đoạn lịch sử này, người Nhật tồn tại như những kẻ xa lạ đối với Phương Tây. Họ là một dân tộc ít ai tỏ tường mà bản tính thực sự, như người ta vẫn tin, chẳng bao giờ có thể thấu thị. Đối với Nước Mỹ, Nhật Bản đã trở thành kẻ thù. Giờ đây một lần nữa, sau sự thịnh vượng của Nhật Bản và việc kiến tạo một mạng lưới thông tin quốc tế, người Nhật lại bị đặt ngay trước tầm mắt của người Mỹ và người Châu Âu như những kẻ buôn bán cạnh tranh khốc liệt. Và cái ý niệm về một bản tính Nhật Bản hiểm hóc, bất khả tri vẫn dặt dẹo tồn tại. Tôi thậm chí còn tự hỏi liệu cái hình ảnh đang phơi bày trước toàn thể thiên hạ hôm nay có phải là hình ảnh của một dân tộc còn hiểm hóc, khó lường hơn bao giờ hết hay không.


Giới trí thức và các nhà văn Nhật Bản cần phải đáp lời trước cuộc khủng hoảng này và, bằng cách vận dụng vô số chiến lược, ép buộc đa số các nhà chính trị, giới quan chức và các thủ lĩnh kinh doanh phải đưa ra một hình ảnh trung thực hơn về Nhật Bản cùng con người nơi đây. Điều mà người Châu Âu và người Mỹ nên nhìn thấy một cách tỏ tường chính là một Nhật Bản sở hữu một cái nhìn về thế giới được nhào nặn giàu có bởi cả hai thành tố văn hóa truyền thống lẫn ngoại bang, cùng một ý chí hợp tác với tư cách một thành viên trách nhiệm của cộng đồng nhân loại, nhằm đóng góp một phần độc lập và riêng biệt vào môi trường sinh tồn của hành tinh chung này. Giới trí thức Nhật Bản lại càng phải cảm nhận sự cấp bách của việc đạt được điều đó hơn bao giờ hết, nhất là khi chứng kiến những biến chuyển dữ dội gần đây trong mối tương quan Đông - Tây.


Những trang viết đương đại phải cất tiếng đáp lời trước cảm thức về cuộc khủng hoảng và sứ mệnh ấy. Chỉ khi đó, cuốn tiểu thuyết Nhật Bản mới có thể đòi hỏi sự chú ý trọn vẹn từ một công chung đọc sách đầy tri thức. Với tư cách là một nhà văn đương đại, tôi muốn dấn thân làm việc hướng tới mục tiêu đó.


Cuộc hiện đại hóa của Nhật Bản phơi bày lịch sử của một quốc gia Châu Á đã nỗ lực tháo chạy khỏi bờ cõi Châu Á để biến mình thành một quốc gia theo hình mẫu Châu Âu. Điều này sóng đôi với một xu hướng trong văn chương Nhật Bản hiện đại: tập trung vào các trang viết ở Châu Âu, Nga, và Châu Mỹ. Ngay cả hôm nay, các nhà văn Nhật Bản vẫn ngóng về phương Tây, nơi giờ đây bao gồm cả Đông Âu và Mỹ Latinh. Thế nhưng với những chuyển động văn chương mới ở Trung Hoa và Triều Tiên, một số nhà văn và nhà phê bình trẻ tuổi của Nhật Bản đã bắt đầu cất tiếng gọi mời một cuộc nghiên cứu nghiêm túc về văn chương Châu Á. Điều này đối với tôi hiện lên như một hướng đi khả dĩ mà văn chương Nhật Bản có thể tìm về. Và điều này sẽ dẫn dụ chúng ta đi xa khỏi một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hiếu chiến, để bước tới một tương lai rộng mở hơn.

 

TỪ LINH dịch

Đang xem: Kenzaburo Oe: Văn Chương Nhật Bản Hiện Đại Và Bây Giờ

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
Giỏ Hàng