Giới Thiệu
Tiểu luận "On Three Ways of Writing for Children" ban đầu là một bài phát biểu được Lewis trình bày tại hội nghị của Hiệp hội Thư viện được tổ chức tại Bournemouth, Anh Quốc. Sau bài diễn thuyết, nội dung này được điều chỉnh thành tiểu luận và in trong kỷ yếu của hội nghị năm 1952. Nó được biết đến rộng rãi nhất khi được tập hợp lại trong cuốn sách Of Other Worlds: Essays and Stories (xuất bản năm 1966, sau khi ông qua đời).
Về tầm quan trọng của tiểu luận này, nó được một bản tuyên ngôn nghệ thuật của chính Lewis, đúc kết từ quá trình ông thai nghén loạt truyện Narnia, nhằm mục đích bảo vệ giá trị văn học đích thực của truyện thiếu nhi và đòi lại sự tôn trọng đúng mực cho thể loại này. '
3 Cách Viết Truyện Cho Trẻ Em
Tôi trộm nghĩ có ba lối mà những người viết cho thiếu nhi có thể tiếp cận công việc của mình; hai lối hay và một lối thường là dở.
Tôi nhận ra lối viết dở này khá gần đây nhờ hai nhân chứng vô tình. Một là một quý bà đã gửi cho tôi bản thảo câu chuyện bà viết, trong đó một bà tiên trao cho đứa trẻ một thứ máy móc kỳ diệu. Tôi gọi là "máy móc" vì đó chẳng phải nhẫn thần, mũ thần hay áo choàng hay bất cứ thứ gì theo lối truyền thống. Nó là một cỗ máy, một thứ đầy những vòi, tay cầm và nút bấm. Bạn nhấn nút này thì có kem ăn, nhấn nút kia thì tòi ra một con cún, vân vân. Tôi đành thật thà bảo tác giả rằng tôi chẳng mặn mà gì với thứ đó. Bà đáp: "Tôi cũng chẳng thích, nó làm tôi chán muốn chết. Nhưng đó là thứ trẻ con thời nay muốn."
Bằng chứng thứ hai của tôi là thế này. Trong câu chuyện đầu tay của mình, tôi đã mô tả dông dài về một bữa trà muộn thịnh soạn mà chàng nhân mã hiếu khách thết đãi cô bé nhân vật chính. Một người đàn ông, vốn đã có con cái đề huề, bảo tôi: "À, tôi hiểu sao anh lại viết thế rồi. Nếu muốn làm vừa lòng độc giả người lớn, anh cho họ tình dục, thế nên anh tự nhủ: 'Cái đó không hợp với trẻ con, mình nên cho chúng cái gì đây? Biết rồi! Lũ quỷ sứ nhỏ ấy thích ăn ngon mặc đẹp.'" Tuy nhiên, thực tế là chính bản thân tôi thích ăn uống. Tôi chỉ đưa vào sách những gì tôi từng muốn đọc khi còn bé và những gì tôi vẫn thích đọc ngay lúc này, khi đã ở tuổi ngũ tuần.
Quý bà trong ví dụ thứ nhất và người đàn ông trong ví dụ thứ hai đều quan niệm viết cho trẻ em là một chuyên ban đặc biệt của việc "chiều lòng thị hiếu công chúng". Tất nhiên, trẻ em là một công chúng đặc biệt, và anh tìm hiểu xem chúng muốn gì rồi trao cho chúng thứ ấy, bất kể bản thân anh có ít hứng thú với nó đến đâu.
Cách tiếp cận thứ hai thoạt trông có vẻ tương tự, nhưng tôi cho rằng sự giống nhau ấy chỉ là bề ngoài. Đây là lối của Lewis Carroll, của Kenneth Grahame, và của Tolkien. Câu chuyện in trên giấy nảy mầm từ một câu chuyện được kể cho một đứa trẻ cụ thể, bằng giọng nói sống động và có lẽ là ứng khẩu tức thì. Nó giống cách thứ nhất ở chỗ anh chắc chắn đang cố gắng trao cho đứa trẻ ấy điều nó muốn.
Nhưng ở đây anh đang đối diện với một con người bằng xương bằng thịt, một đứa trẻ, tất nhiên, khác biệt với mọi đứa trẻ khác. Không còn chuyện quan niệm "trẻ em" như một giống loài xa lạ mà thói quen của chúng được anh "dựng lên" như một nhà nhân chủng học hay một tay chào hàng. Tôi ngờ rằng, khi mặt đối mặt như vậy, anh cũng chẳng thể nào thết đãi đứa trẻ những thứ được toan tính để làm vừa lòng nó nhưng lại bị chính anh xem thường hay hờ hững. Tôi tin chắc đứa trẻ sẽ nhìn thấu điều đó. Trong bất kỳ mối quan hệ cá nhân nào, hai bên đều tác động lẫn nhau. Anh sẽ trở nên hơi khác đi vì anh đang nói chuyện với một đứa trẻ, và đứa trẻ sẽ trở nên hơi khác đi vì nó đang được trò chuyện với một người lớn. Một cộng đồng, một nhân cách tổng hòa được tạo ra, và câu chuyện phát triển từ đó.
Cách thứ ba, cũng là cách duy nhất tôi có thể dùng, ấy là viết một câu chuyện thiếu nhi bởi vì truyện thiếu nhi là hình thức nghệ thuật tốt nhất cho điều anh muốn nói: cũng tựa như một nhà soạn nhạc có thể viết một khúc vãn ca không phải vì sắp có đám tang công cộng nào, mà vì những ý tưởng âm nhạc nảy sinh trong đầu ông phù hợp nhất với hình thức đó. Phương pháp này có thể áp dụng cho các loại văn học thiếu nhi khác ngoài truyện kể. Tôi nghe nói Arthur Mee chưa bao giờ gặp một đứa trẻ nào và cũng chưa bao giờ muốn gặp: theo quan điểm của ông, thật may mắn là các bé trai lại thích đọc những gì ông thích viết. Giai thoại này có thể không đúng sự thật, nhưng nó minh họa cho ý tôi muốn nói.
Trong giống loài "truyện thiếu nhi", cái chi tình cờ phù hợp với tôi là truyện kỳ ảo, hay (hiểu theo nghĩa rộng) là truyện thần tiên. Tất nhiên còn có những chi khác. Bộ ba tác phẩm của E. Nesbit về gia đình Bastable là một mẫu mực xuất sắc của một thể loại khác. Nó là "truyện thiếu nhi" theo nghĩa trẻ em có thể và thực sự đọc nó: nhưng đó cũng là hình thức duy nhất mà E. Nesbit có thể trao gửi cho ta nhiều đến thế những nét hài hước của tuổi thơ. Đúng là những đứa trẻ nhà Bastable có xuất hiện, được xử lý thành công dưới góc nhìn người lớn, trong một cuốn tiểu thuyết trưởng thành của bà, nhưng chúng chỉ xuất hiện trong chốc lát. Tôi không nghĩ bà có thể duy trì điều đó lâu. Sự ủy mị rất dễ len lỏi vào nếu ta dông dài về trẻ em dưới con mắt của người bề trên. Và cái hiện thực của tuổi thơ, như tất cả chúng ta từng trải qua, sẽ lộ diện. Bởi lẽ ai cũng nhớ rằng tuổi thơ của mình, như nó đã diễn ra, khác xa một trời một vực với những gì người lớn nhìn thấy. Thế nên Sir Michael Sadler, khi tôi hỏi ý kiến ông về một ngôi trường thực nghiệm mới nọ, đã đáp: "Tôi không bao giờ đưa ra ý kiến về bất kỳ thực nghiệm nào cho đến khi lũ trẻ lớn lên và có thể nói cho chúng ta biết chuyện gì đã thực sự xảy ra."
Bởi vậy bộ ba tác phẩm Bastable, dù nhiều tình tiết có vẻ phi lý, theo một nghĩa nào đó lại cung cấp cho ngay cả người lớn những trang đọc về trẻ em chân thực hơn phần lớn những cuốn sách viết cho người lớn. Nhưng ngược lại, nó cũng cho phép những đứa trẻ đọc nó làm một điều gì đó trưởng thành hơn chúng tưởng. Bởi toàn bộ cuốn sách là một nghiên cứu tâm lý về Oswald, một bức chân dung tự họa châm biếm một cách vô thức, mà mọi đứa trẻ thông minh đều có thể thưởng thức trọn vẹn: nhưng sẽ chẳng đứa trẻ nào chịu ngồi xuống đọc một bản nghiên cứu tâm lý dưới bất kỳ hình thức nào khác. Còn một cách nữa mà truyện thiếu nhi chuyển tải mối quan tâm tâm lý này, nhưng tôi sẽ để dành bàn sau.
Trong cái nhìn lướt qua về bộ ba Bastable này, tôi nghĩ chúng ta đã tình cờ chạm phải một nguyên tắc. Khi truyện thiếu nhi đơn thuần là hình thức đúng đắn cho điều tác giả muốn nói, thì tất nhiên những độc giả muốn nghe điều đó sẽ đọc hoặc đọc lại câu chuyện ấy, ở bất kỳ độ tuổi nào. Tôi chưa từng biết đến Gió qua rặng liễu (The Wind in the Willows) hay bộ sách Bastable cho đến khi tôi ngấp nghé tuổi ba mươi, và tôi không nghĩ vì thế mà tôi thưởng thức chúng kém hơn. Tôi gần như muốn lập ra một quy tắc rằng: một câu chuyện thiếu nhi chỉ được trẻ con thích thôi thì đó là một câu chuyện thiếu nhi tồi. Những câu chuyện hay thì trường tồn. Một bản luân vũ mà anh chỉ thích khi đang nhảy là một bản luân vũ tồi.
Quy tắc này đối với tôi dường như hiển nhiên đúng nhất với loại truyện thiếu nhi hợp gu tôi nhất: truyện kỳ ảo hay truyện thần tiên. Thế nhưng giới phê bình hiện đại lại dùng từ "người lớn" như một lời tán dương. Họ thù địch với cái họ gọi là "hoài niệm" và khinh miệt cái họ gọi là "chủ nghĩa Peter Pan". Do đó, một người đàn ông thú nhận rằng những người lùn, người khổng lồ, thú biết nói và phù thủy vẫn thân thương với ông ta ở tuổi năm mươi ba thì ngày nay ít có khả năng được khen ngợi vì sự trẻ trung vĩnh cửu, mà thường bị dè bỉu và thương hại vì sự phát triển bị ngưng trệ. Nếu tôi dành chút thời gian để tự biện hộ trước những cáo buộc này, thì không hẳn vì việc bị dè bỉu hay thương hại quan trọng đến thế, mà bởi lời biện hộ này gắn liền với toàn bộ quan điểm của tôi về truyện thần tiên và thậm chí về văn học nói chung. Lời biện hộ của tôi gồm ba luận điểm.
Tôi xin đáp trả bằng đòn gậy ông đập lưng ông. Những nhà phê bình coi người lớn là một từ mang tính tán dương, thay vì chỉ là một từ mang tính mô tả đơn thuần, bản thân họ chưa thể gọi là người lớn. Bận tâm về việc mình đã lớn, ngưỡng mộ cái sự lớn chỉ vì nó lớn, đỏ mặt khi bị nghi ngờ là trẻ con; những điều này là dấu hiệu của tuổi thơ và tuổi vị thành niên. Và ở tuổi thơ hay tuổi vị thành niên, chúng là những triệu chứng lành mạnh, nếu ở mức độ vừa phải. Những thứ non nớt cần phải muốn lớn lên. Nhưng mang theo sự bận tâm về việc làm người lớn ấy vào tuổi trung niên hay thậm chí tuổi thanh niên thì đó mới thực sự là dấu hiệu của sự phát triển bị ngưng trệ. Khi tôi lên mười, tôi đọc truyện thần tiên một cách lén lút và sẽ xấu hổ nếu bị bắt gặp. Giờ đây khi đã năm mươi, tôi đọc chúng công khai. Khi tôi trở thành đàn ông, tôi từ bỏ những trò con trẻ, bao gồm cả nỗi sợ bị coi là trẻ con và cái khao khát được làm người lớn.
Quan điểm hiện đại dường như bao hàm một quan niệm sai lầm về sự trưởng thành. Họ cáo buộc chúng ta bị ngưng trệ vì chúng ta không đánh mất một sở thích có từ thời thơ ấu. Nhưng chắc chắn sự ngưng trệ không nằm ở việc từ chối đánh mất những cái cũ, mà ở việc thất bại trong việc thêm vào những cái mới? Giờ đây tôi thích rượu vang trắng, thứ mà tôi chắc chắn mình sẽ không thích khi còn bé. Nhưng tôi vẫn thích nước chanh. Tôi gọi đó là sự lớn lên hay phát triển vì tôi đã được làm giàu thêm: nơi trước kia tôi chỉ có một niềm vui, giờ tôi có hai. Nhưng nếu tôi phải đánh mất sở thích uống nước chanh để có được sở thích uống rượu vang, thì đó không phải là sự trưởng thành mà chỉ là sự thay đổi đơn thuần. Giờ đây tôi thưởng thức Tolstoy, Jane Austen và Trollope cũng như truyện thần tiên và tôi gọi đó là sự trưởng thành: nếu tôi phải từ bỏ truyện thần tiên để lĩnh hội các tiểu thuyết gia kia, tôi sẽ không nói mình đã lớn lên mà chỉ nói mình đã thay đổi. Một cái cây lớn lên vì nó thêm những vòng gỗ: một đoàn tàu không lớn lên bằng cách bỏ lại sân ga phía sau và phì phò chạy tới ga kế tiếp.
Trong thực tế, vấn đề còn mạnh mẽ và phức tạp hơn thế. Tôi nghĩ sự trưởng thành của tôi khi đọc truyện thần tiên bây giờ cũng rõ ràng như khi tôi đọc các tiểu thuyết gia, bởi giờ đây tôi thưởng thức truyện thần tiên còn thấu đáo hơn thời thơ ấu: vì có thể đặt vào đó nhiều hơn, tất nhiên tôi nhận được từ đó nhiều hơn. Nhưng tôi không nhấn mạnh điểm này. Ngay cả nếu đó chỉ đơn thuần là việc thêm sở thích văn học người lớn vào sở thích văn học thiếu nhi cố hữu, thì phép cộng vẫn xứng đáng với cái tên "trưởng thành", còn quá trình chỉ đơn thuần vứt bỏ gói hành lý này để nhặt gói khác thì không. Tất nhiên, đúng là quá trình trưởng thành, một cách ngẫu nhiên và đáng tiếc, có bao hàm một số mất mát. Nhưng đó không phải là cốt lõi của sự trưởng thành, chắc chắn không phải là điều khiến sự trưởng thành đáng ngưỡng mộ hay khao khát. Nếu quả là vậy, nếu vứt bỏ hành lý và bỏ lại sân ga là cốt lõi và phẩm hạnh của sự trưởng thành, thì tại sao chúng ta lại dừng lại ở tuổi trưởng thành? Tại sao lẩm cẩm lại không phải là một từ tán dương tương đương? Tại sao chúng ta không được chúc mừng vì rụng răng và rụng tóc? Một số nhà phê bình dường như nhầm lẫn sự trưởng thành với cái giá của sự trưởng thành và còn muốn đẩy cái giá đó lên cao hơn mức tự nhiên đòi hỏi.
Toàn bộ sự liên kết giữa truyện thần tiên và kỳ ảo với tuổi thơ chỉ là cục bộ và ngẫu nhiên. Tôi hy vọng mọi người đã đọc tiểu luận của Tolkien về Truyện Thần Tiên, có lẽ là đóng góp quan trọng nhất cho chủ đề này mà chưa ai từng làm được. Nếu đã đọc, bạn sẽ biết rằng, ở hầu hết mọi nơi và mọi thời đại, truyện thần tiên không được đặc biệt tạo ra, cũng không được thưởng thức độc quyền bởi trẻ em. Nó đã dạt về phòng trẻ khi nó trở nên lỗi mốt trong giới văn chương, cũng như những món đồ nội thất lỗi thời dạt về phòng trẻ trong các ngôi nhà thời Victoria. Kỳ thực, nhiều trẻ em không thích loại sách này, cũng như nhiều trẻ em không thích ghế sofa bọc lông ngựa: và nhiều người lớn lại thích nó, cũng như nhiều người lớn thích ghế bập bênh. Và những ai thích nó, dù già hay trẻ, có lẽ đều thích vì cùng một lý do. Và chẳng ai trong chúng ta có thể nói chắc chắn lý do đó là gì. Hai lý thuyết thường trực trong tâm trí tôi nhất là của Tolkien và của Jung.
Theo Tolkien, sức hấp dẫn của truyện thần tiên nằm ở chỗ con người ở đó thực thi trọn vẹn nhất chức năng của mình như một "kẻ kiến tạo phụ"; không phải, như người ta thích nói ngày nay, là đưa ra một "bình luận về cuộc đời" mà là tạo ra, trong khả năng có thể, một thế giới phụ thuộc của riêng mình. Vì theo quan điểm của Tolkien, đây là một trong những chức năng chính đáng của con người, nên niềm hoan lạc tự nhiên nảy sinh bất cứ khi nào nó được thực hiện thành công. Đối với Jung, truyện thần tiên giải phóng các Cổ mẫu trú ngụ trong vô thức tập thể, và khi đọc một truyện thần tiên hay, chúng ta đang tuân theo lời răn cổ xưa "Hãy biết chính mình".
Tôi xin mạo muội thêm vào đây lý thuyết của riêng tôi, không hẳn về toàn bộ Thể loại, mà về một đặc điểm trong đó: ý tôi là sự hiện diện của những sinh thể không phải con người nhưng lại hành xử, ở các mức độ khác nhau, như con người: những người khổng lồ, người lùn và thú biết nói. Tôi tin rằng những thứ này ít nhất (vì chúng có thể có nhiều nguồn sức mạnh và vẻ đẹp khác) là một loại chữ tượng hình đáng ngưỡng mộ truyền tải tâm lý học, các loại hình tính cách, một cách ngắn gọn hơn lối trình bày tiểu thuyết và đến được với những độc giả mà lối trình bày tiểu thuyết chưa thể chạm tới. Hãy xem ngài Badger (Lửng) trong Gió qua rặng liễu - cái sự pha trộn phi thường giữa đẳng cấp cao sang, thói cư xử thô lỗ, sự cộc cằn, tính nhút nhát và lòng tốt. Đứa trẻ nào đã một lần gặp ngài Badger thì mãi mãi về sau, trong tận xương tủy, sẽ có một sự hiểu biết về nhân tính và lịch sử xã hội Anh quốc mà nó không thể có được theo bất kỳ cách nào khác.
Tất nhiên, cũng như không phải mọi văn học thiếu nhi đều là kỳ ảo, thì không phải mọi cuốn sách kỳ ảo đều cần là sách thiếu nhi. Vẫn hoàn toàn có thể, ngay cả trong một thời đại chống lãng mạn dữ dội như thời đại của chúng ta, để viết những câu chuyện kỳ ảo cho người lớn: mặc dù bạn thường cần phải tạo dựng tên tuổi ở một thể loại văn học thời thượng nào đó trước khi có ai chịu xuất bản chúng. Nhưng có thể có một tác giả vào một thời điểm cụ thể nhận thấy không chỉ kỳ ảo mà là kỳ-ảo-cho-trẻ-em mới là hình thức chính xác cho điều anh ta muốn nói. Sự phân biệt này rất mong manh. Những câu chuyện kỳ ảo cho trẻ em và những câu chuyện kỳ ảo cho người lớn của anh ta sẽ có nhiều điểm chung với nhau hơn là với cuốn tiểu thuyết thông thường, hay với cái đôi khi được gọi là "tiểu thuyết về đời sống trẻ thơ". Quả thực, cùng một độc giả có lẽ sẽ đọc cả những cuốn kỳ ảo "thiếu niên" và những truyện kỳ ảo cho người lớn của anh ta. Bởi tôi không cần nhắc một thính giả như thế này rằng việc phân loại sách gọn gàng vào các nhóm tuổi, vốn rất được lòng các nhà xuất bản, chỉ có mối quan hệ rất sơ sài với thói quen của bất kỳ độc giả thực thụ nào. Những ai trong chúng ta bị trách cứ khi về già vẫn đọc sách trẻ con thì cũng từng bị trách cứ khi còn bé vì đọc sách quá già so với tuổi. Không độc giả chân chính nào lại lon ton chạy theo sự tuân phục một cái thời gian biểu.
Vậy sự phân biệt là rất mong manh: và tôi không hoàn toàn chắc chắn điều gì đã khiến tôi, vào một năm cụ thể trong đời, cảm thấy rằng không chỉ là một truyện thần tiên, mà là một truyện thần tiên hướng đến trẻ em, chính xác là thứ tôi phải viết - nếu không thì nổ tung mất. Một phần, tôi nghĩ, là hình thức này cho phép, hoặc buộc bạn phải bỏ qua những thứ tôi muốn bỏ qua. Nó buộc bạn phải dồn toàn bộ sức mạnh của cuốn sách vào những gì được làm và được nói. Nó kiềm chế cái mà một nhà phê bình tử tế nhưng sâu sắc gọi là "con quỷ thuyết giảng" trong tôi. Nó cũng áp đặt những sự cần thiết rất hữu ích về độ dài.
Nếu tôi đã để cho loại truyện thiếu nhi kỳ ảo chiếm lĩnh cuộc thảo luận này, đó là vì nó là loại tôi biết và yêu thích nhất, chứ không phải vì tôi muốn lên án bất kỳ loại nào khác. Nhưng những người bảo trợ cho các loại khác lại thường xuyên muốn lên án nó. Khoảng cứ mỗi trăm năm lại có một kẻ khôn lỏi nào đó đứng lên và cố gắng trục xuất truyện thần tiên. Có lẽ tôi nên nói vài lời để bảo vệ nó, với tư cách là sách đọc cho trẻ em.
Nó bị buộc tội là mang lại cho trẻ em một ấn tượng sai lệch về thế giới chúng đang sống. Nhưng tôi nghĩ không loại văn học nào trẻ em có thể đọc lại mang đến ít ấn tượng sai lệch hơn thế. Tôi nghĩ những gì tự nhận là truyện hiện thực cho trẻ em có khả năng lừa dối chúng cao hơn nhiều. Tôi chưa bao giờ mong đợi thế giới thực sẽ giống như truyện thần tiên. Nhưng tôi nghĩ tôi đã từng mong đợi trường học sẽ giống như những câu chuyện về trường học. Truyện kỳ ảo không gạt tôi: truyện trường học thì có. Tất cả những câu chuyện trong đó trẻ em có những cuộc phiêu lưu và thành công khả thi (theo nghĩa chúng không phá vỡ các quy luật tự nhiên) nhưng lại phi lý đến vô cùng tận, thì nguy hiểm hơn truyện thần tiên nhiều trong việc nuôi dưỡng những kỳ vọng sai lầm.
Hầu như cùng một câu trả lời cũng đúng cho hình ảnh phổ biến về chủ nghĩa thoát ly, mặc dù ở đây vấn đề không đơn giản như vậy. Liệu truyện thần tiên có dạy trẻ em rút lui vào một thế giới của sự "huyễn tưởng" thỏa mãn ước muốn - theo nghĩa chuyên môn tâm lý học của từ này - thay vì đối mặt với các vấn đề của thế giới thực? Chính tại đây vấn đề trở nên nhạy cảm. Hãy lại đặt truyện thần tiên cạnh truyện trường học hay bất kỳ truyện nào được dán nhãn "Sách cho bé trai" hay "Sách cho bé gái", phân biệt với "Sách thiếu nhi". Không nghi ngờ gì rằng cả hai đều khơi dậy và thỏa mãn những ước muốn trong trí tưởng tượng. Chúng ta khao khát đi qua tấm gương soi, để đến xứ sở thần tiên. Chúng ta cũng khao khát trở thành nam sinh hay nữ sinh cực kỳ nổi tiếng và thành công, hay cậu bé hoặc cô bé may mắn khám phá ra âm mưu của điệp viên hoặc cưỡi con ngựa mà không gã cao bồi nào thuần phục nổi.
Nhưng hai nỗi khao khát này rất khác nhau. Nỗi khao khát thứ hai, đặc biệt khi hướng vào một cái gì đó gần gũi như đời sống học đường, thì cồn cào và nguy hiểm chết người. Sự thỏa mãn của nó ở cấp độ tưởng tượng thực sự mang tính bù đắp: chúng ta nhào đến nó từ những thất vọng và tủi nhục của thế giới thực: nó gửi chúng ta trở lại thế giới thực với nỗi bất mãn trần tục. Bởi tất cả chỉ là sự vuốt ve cái tôi. Niềm vui nằm ở việc hình dung bản thân mình là đối tượng của sự ngưỡng mộ. Nỗi khao khát kia, khao khát xứ sở thần tiên, thì rất khác. Theo một nghĩa nào đó, đứa trẻ không khao khát xứ sở thần tiên như một cậu bé khao khát trở thành người hùng của đội bóng. Có ai cho rằng cậu bé thực sự khao khát tất cả những hiểm nguy và khó chịu của một câu chuyện thần tiên không? - thực sự muốn có rồng ở nước Anh đương đại chăng? Không phải vậy. Sẽ đúng hơn nhiều khi nói rằng xứ sở thần tiên khơi dậy một nỗi khao khát về cái gì cậu bé cũng không rõ. Nó khuấy động và làm xao xuyến đứa trẻ (làm giàu cho nó suốt đời) với cảm giác mơ hồ về một điều gì đó vượt ngoài tầm với, và thay vì làm cùn mòn hay làm trống rỗng thế giới thực tại, nó mang lại cho thế giới ấy một chiều sâu mới. Nó không khinh miệt những cánh rừng thực vì nó đã đọc về những cánh rừng bị phù phép: việc đọc làm cho tất cả những cánh rừng thực đều nhuốm chút màu nhiệm. Đây là một loại khao khát đặc biệt. Cậu bé đọc truyện trường học kiểu tôi nghĩ đến khao khát thành công và bất hạnh (khi sách gấp lại) vì không đạt được nó: cậu bé đọc truyện thần tiên khao khát và hạnh phúc trong chính cái sự khao khát ấy. Vì tâm trí nó không tập trung vào bản thân, như thường thấy trong những câu chuyện hiện thực hơn.
Tôi không có ý nói rằng không nên viết truyện trường học cho nam sinh và nữ sinh. Tôi chỉ nói rằng chúng dễ trở thành "huyễn tưởng" theo nghĩa lâm sàng hơn nhiều so với truyện kỳ ảo. Và sự phân biệt này cũng đúng cho việc đọc của người lớn. Sự huyễn tưởng nguy hiểm luôn luôn hiện thực về mặt bề ngoài. Nạn nhân thực sự của những cơn mơ mộng ước muốn không đắm mình vào Odyssey, The Tempest hay The Worm Ouroboros: anh ta (hoặc cô ta) thích những câu chuyện về các triệu phú, những người đẹp không thể cưỡng lại, những khách sạn sang trọng, bãi biển rợp bóng cọ và những cảnh phòng ngủ - những thứ thực sự có thể xảy ra, lẽ ra phải xảy ra, và sẽ xảy ra nếu người đọc có một cơ hội công bằng. Bởi như tôi nói, có hai loại khao khát. Khao khát kia là một sự rèn luyện tinh thần, còn khao khát này là một căn bệnh.
Một cuộc tấn công nghiêm trọng hơn nhiều vào truyện thần tiên với tư cách là văn học thiếu nhi đến từ những người không muốn trẻ em bị hoảng sợ. Bản thân tôi đã chịu đựng quá nhiều nỗi sợ bóng đêm thời thơ ấu để có thể xem nhẹ lời phản đối này. Tôi không muốn thổi bùng ngọn lửa của địa ngục riêng tư đó cho bất kỳ đứa trẻ nào. Mặt khác, chẳng có nỗi sợ nào của tôi đến từ truyện thần tiên cả. Côn trùng khổng lồ là đặc sản của tôi, kế đến là ma quỷ. Tôi cho rằng ma quỷ đến trực tiếp hoặc gián tiếp từ các câu chuyện, mặc dù chắc chắn không phải từ truyện thần tiên, nhưng tôi không nghĩ côn trùng đến từ đó. Tôi không biết cha mẹ tôi có thể làm gì hay không làm gì để cứu tôi khỏi những cái kìm, hàm nhai và những con mắt của những thứ gớm ghiếc nhiều chân ấy.
Và đó, như bao người đã chỉ ra, chính là cái khó. Chúng ta không biết điều gì sẽ hay sẽ không làm một đứa trẻ sợ hãi theo cách cụ thể này. Tôi nói "theo cách cụ thể này" vì ở đây ta phải phân biệt. Những người nói rằng trẻ em không được phép bị hoảng sợ có thể ngụ ý hai điều. Họ có thể ngụ ý rằng chúng ta không được làm bất cứ điều gì có khả năng gây ra cho đứa trẻ những nỗi sợ ám ảnh, tàn phế, bệnh hoạn mà lòng can đảm thông thường bất lực: tóm lại là các chứng ám ảnh sợ hãi (phobias). Tâm trí nó, nếu có thể, phải được giữ sạch sẽ khỏi những thứ nó không chịu nổi khi nghĩ tới. Hoặc họ có thể ngụ ý rằng chúng ta phải cố gắng giữ cho tâm trí nó không biết rằng nó sinh ra trong một thế giới của cái chết, bạo lực, thương tích, phiêu lưu, chủ nghĩa anh hùng và sự hèn nhát, thiện và ác.
Nếu họ ngụ ý điều thứ nhất, tôi đồng ý với họ: nhưng nếu họ ngụ ý điều thứ hai thì không. Điều thứ hai thực sự sẽ là mang lại cho trẻ em một ấn tượng sai lệch và nuôi dưỡng chúng bằng chủ nghĩa thoát ly theo nghĩa xấu. Có một cái gì đó nực cười trong ý tưởng giáo dục như thế cho một thế hệ sinh ra giữa thời đại của cảnh sát mật vụ và bom nguyên tử. Vì rất có thể chúng sẽ gặp những kẻ thù tàn ác, ít nhất hãy để chúng nghe về những hiệp sĩ dũng cảm và lòng can đảm hào hùng. Nếu không, anh đang làm cho số phận của chúng không phải tươi sáng hơn mà là đen tối hơn. Hầu hết chúng ta cũng không thấy bạo lực và đổ máu trong truyện gây ra bất kỳ nỗi khiếp đảm ám ảnh nào trong tâm trí trẻ thơ. Về điểm này, tôi đứng về phía nhân loại một cách không hối lỗi để chống lại nhà cải cách hiện đại. Hãy cứ để có những ông vua độc ác và những vụ chặt đầu, những trận chiến và ngục tối, những người khổng lồ và rồng, và hãy để những kẻ phản diện bị giết chết một cách đích đáng ở cuối sách. Không gì có thể thuyết phục tôi rằng điều này gây ra cho một đứa trẻ bình thường bất kỳ loại hay mức độ sợ hãi nào vượt quá cái mà nó muốn, và cần, phải cảm thấy. Bởi vì, tất nhiên, nó muốn được sợ hãi một chút.
[...]
Nhưng tôi đã đi quá xa chủ đề của mình. Điều này là không thể tránh khỏi vì, trong ba phương pháp, tôi chỉ biết qua kinh nghiệm phương pháp thứ ba. Tôi hy vọng tiêu đề của mình không khiến ai nghĩ rằng tôi đủ tự phụ để cho các bạn lời khuyên về cách viết truyện cho trẻ em. Có hai lý do rất chính đáng để không làm điều đó. Một là nhiều người đã viết những câu chuyện hay hơn tôi rất nhiều, và tôi thà học về nghệ thuật đó còn hơn đứng ra dạy nó. Hai là, theo một nghĩa nào đó, tôi chưa bao giờ thực sự "tạo" ra một câu chuyện. Với tôi, quá trình này giống như ngắm chim chóc hơn là nói chuyện hay xây dựng. Tôi nhìn thấy những hình ảnh. Một số hình ảnh này có một hương vị chung, gần như một mùi vị chung, nhóm chúng lại với nhau. Hãy giữ yên lặng và quan sát, chúng sẽ bắt đầu tự liên kết lại. Nếu anh rất may mắn (tôi chưa bao giờ may mắn đến thế), cả một bộ có thể tự liên kết một cách nhất quán đến mức anh có một câu chuyện hoàn chỉnh: mà không cần tự làm bất cứ điều gì. Nhưng thường xuyên hơn (theo kinh nghiệm của tôi là luôn luôn) có những khoảng trống. Thế là cuối cùng anh phải thực hiện một số sự bịa đặt có chủ đích, phải trù liệu lý do tại sao các nhân vật này lại ở những nơi chốn này và làm những việc này. Tôi không biết liệu đây có phải là cách viết truyện thông thường hay không, càng không biết liệu nó có phải là cách tốt nhất. Đó là cách duy nhất tôi biết: hình ảnh luôn đến trước.
Trước khi kết thúc, tôi muốn quay lại điều tôi đã nói lúc đầu. Tôi bác bỏ bất kỳ cách tiếp cận nào bắt đầu bằng câu hỏi "Trẻ em hiện đại thích gì?". Tôi có thể bị hỏi: "Liệu ông có bác bỏ nốt cách tiếp cận bắt đầu bằng câu hỏi 'Trẻ em hiện đại cần gì?' - nói cách khác, cách tiếp cận đạo đức hay giáo huấn không?". Tôi nghĩ câu trả lời là Có. Không phải vì tôi không thích truyện có đạo đức: chắc chắn không phải vì tôi nghĩ trẻ em ghét đạo đức. Mà đúng hơn là vì tôi tin chắc câu hỏi "Trẻ em hiện đại cần gì?" sẽ không dẫn anh đến một đạo đức tốt. Nếu chúng ta hỏi câu đó, chúng ta đang giả định một thái độ quá ư bề trên. Sẽ tốt hơn nếu hỏi "Tôi cần đạo đức gì?", vì tôi nghĩ chúng ta có thể chắc chắn rằng cái gì không làm chúng ta bận tâm sâu sắc sẽ không làm độc giả quan tâm sâu sắc, bất kể tuổi tác của họ. Nhưng tốt hơn hết là đừng hỏi câu hỏi đó. Hãy để những hình ảnh tự kể cho anh nghe đạo đức của chúng. Vì bài học đạo đức vốn có trong chúng sẽ trỗi dậy từ bất cứ gốc rễ tâm linh nào anh đã cắm rễ thành công trong suốt cuộc đời mình. Nhưng nếu chúng không chỉ cho anh bài học đạo đức nào, đừng nhét một cái vào. Vì cái đạo đức anh nhét vào có khả năng là một lời sáo rỗng, hoặc thậm chí là một sự dối trá, được hớt váng từ bề mặt ý thức của anh. Thật vô lễ khi dâng cho trẻ em thứ đó. Vì chúng ta đã được dạy bởi thẩm quyền tối cao rằng trong lĩnh vực đạo đức, chúng có lẽ ít nhất cũng khôn ngoan như chúng ta. Bất cứ ai có thể viết một câu chuyện thiếu nhi không có bài học đạo đức thì tốt hơn nên làm vậy: nghĩa là, nếu anh ta định viết truyện thiếu nhi. Bài học đạo đức duy nhất có giá trị là bài học nảy sinh một cách tất yếu từ toàn bộ tâm tính của tác giả.
[...]
Có lần trong phòng ăn khách sạn, tôi nói, hơi quá to: "Tôi chúa ghét mận khô."
"Cháu cũng thế," một giọng nói sáu tuổi bất ngờ vang lên từ bàn khác.
Sự đồng cảm đến tức thì. Chẳng ai trong chúng tôi thấy điều đó buồn cười. Cả hai chúng tôi đều biết rằng mận khô quá tởm để mà buồn cười. Đó là cuộc gặp gỡ đúng mực giữa người lớn và trẻ nhỏ như những nhân cách độc lập. Về những mối quan hệ cao hơn nhiều và khó khăn hơn nhiều giữa cha mẹ và con cái hay thầy cô và trò, tôi không nói gì cả. Một tác giả, với tư cách chỉ là một tác giả, đứng ngoài tất cả những điều đó. Anh ta thậm chí chẳng phải là một ông chú. Anh ta là một người tự do và bình đẳng, giống như bác đưa thư, ông hàng thịt, và con chó nhà bên.
Nhất Giang dịch
Đọc thêm: C.S. Lewis về Giá Trị Của Những Cuốn Sách Cũ

Kiểm tra đơn hàng