Olga Takarcruk: Người Kể Chuyện Dịu Dàng (Diễn Từ Nobel Văn Học 2019)

Olga Takarcruk: Người Kể Chuyện Dịu Dàng (Diễn Từ Nobel Văn Học 2019)

Olga Tokarczuk - nữ nhà văn Ba Lan nhận giải Nobel Văn học 2018 (trao năm 2019) trình bày bài diễn từ dài gần một giờ đồng hồ tại Stockholm hôm 7/12/2019, giải thích căn cốt nghệ thuật và quan niệm của bà về mối liên hệ hữu cơ giữa vạn vật. Bài nói chuyện mang tên "Người kể chuyện dịu dàng", bắt đầu từ tấm ảnh thời trẻ của người mẹ trước khi sinh bà, mở rộng sang những tác động địa lý - khí hậu của lịch sử thế giới, và khép lại bằng tuyên ngôn về sứ mệnh kết nối của văn chương. Dưới đây là bản lược dịch bài diễn từ của bà từ ấn bản tiếng Anh của Quỹ Nobel, mời anh/chị và các bạn độc giả cùng đọc.

 



1.
 

Tấm ảnh đầu tiên tôi từng trải nghiệm một cách có ý thức là bức hình chụp mẹ trước khi bà sinh ra tôi. Thật tiếc đó lại là một bức ảnh đen trắng, đồng nghĩa với việc nhiều chi tiết đã bị thất lạc, biến thành chẳng là gì ngoài những mảng xám mờ. Ánh sáng trong ảnh dịu nhẹ và đượm vẻ mưa bụi, dường như là ánh sáng mùa xuân, và chắc chắn là thứ ánh sáng lọt qua khung cửa sổ, giữ căn phòng trong một vầng sáng hầu như khó bề cảm nhận. Mẹ tôi đang ngồi bên chiếc máy thu thanh cũ kỹ loại có con mắt thần màu xanh lục và hai núm xoay: một để chỉnh âm lượng, một để dò đài. Chiếc radio này về sau trở thành người bạn đồng hành lớn thời thơ ấu của tôi; từ nó mà tôi biết đến sự hiện tồn của vũ trụ. Xoay núm vặn bằng gỗ mun sẽ làm dịch chuyển những chiếc râu ăng-ten mảnh khảnh, và lọt vào tầm đón của chúng là đủ mọi đài phát khác nhau Warsaw, London, Luxembourg và Paris. Đôi khi, âm thanh chập chờn ngắt quãng, tựa hồ giữa Prague và New York, hay Moscow và Madrid, chiếc râu ăng-ten đã vấp phải những lỗ đen vũ trụ. Mỗi lần như thế, một cơn rùng mình lại chạy dọc sống lưng tôi. Tôi tin rằng qua chiếc đài này, các hệ mặt trời và thiên hà khác nhau đang trò chuyện cùng tôi, lách tách, ngân nga và gửi gắm những thông điệp hệ trọng, dẫu tôi chẳng tài nào giải mã nổi.


Thuở còn là một bé gái ngắm nhìn bức hình ấy, tôi luôn đinh ninh rằng mẹ đang tìm kiếm tôi khi bà xoay núm dò đài. Tựa một chiếc radar nhạy cảm, bà thấu suốt những cõi cằn vô tận của vũ trụ để cố tìm xem khi nào tôi sẽ tới, và từ đâu đến. Kiểu tóc cùng trang phục của mẹ (một chiếc áo cổ thuyền rộng) chỉ rõ thời điểm bức ảnh được chụp: vào đầu những năm sáu mươi. Phóng tầm mắt ra đâu đó ngoài khung hình, người phụ nữ hơi khom lưng dường như đang nhìn thấy điều gì đó vốn không hiển lộ với kẻ ngắm nhìn bức ảnh về sau. Khi còn thơ bé, tôi hình dung bà đang đăm đắm nhìn vào thời gian. Chẳng có biến cố thực sự nào diễn ra trong bức hình đó là bức ảnh chụp một trạng thái, không phải một tiến trình. Người phụ nữ ấy buồn bã, dường như chìm đắm trong suy tưởng - dường như đang lạc lối.


Về sau, khi tôi gặng hỏi mẹ về nỗi buồn ấy điều tôi đã làm rất nhiều lần, và luôn nhận lại một câu trả lời duy nhất mẹ bảo bà buồn vì khi ấy tôi chưa ra đời, vậy mà bà đã thấy nhớ tôi rồi.


“Làm sao mẹ có thể nhớ con khi con còn chưa ở đó?” tôi hỏi.


Tôi từng biết rằng người ta chỉ nhớ một ai đó khi đã đánh mất họ, rằng nhung nhớ là hệ quả của sự mất mát.


“Nhưng chuyện cũng có thể diễn ra theo chiều ngược lại,” mẹ đáp. “Nhớ một người tức là người ấy đã hiện diện nơi đây.”


Cuộc đối thoại ngắn ngủi ấy, diễn ra tại một vùng quê miền Tây Ba Lan vào cuối những năm sáu mươi, giữa mẹ và tôi đứa con nhỏ của bà đã mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm và trao cho tôi một nguồn nội lực nâng đỡ suốt cả cuộc đời. Bởi lẽ nó đã nâng sự tồn tại của tôi vượt thoát khỏi tính vật chất tầm thường của cõi trần, vượt lên trên sự ngẫu nhiên, trên luật nhân quả và quy luật xác suất. Mẹ đã đặt sự hiện hữu của tôi ra ngoài thời gian, trong sự cận kề êm ái của vĩnh hằng. Trong tâm trí non nớt của đứa trẻ, khi ấy tôi hiểu rằng nơi mình còn có nhiều điều hơn những gì tôi từng mường tượng. Và dẫu cho tôi có thốt lên: “Tôi lạc lối”, thì tôi vẫn đang bắt đầu bằng hai chữ “Tôi là” chuỗi từ hệ trọng nhất và kỳ lạ nhất trên thế gian.


Và như thế, một người phụ nữ trẻ vốn chẳng hề sùng đạo mẹ tôi đã ban tặng cho tôi thứ từng được gọi là linh hồn, qua đó trang bị cho tôi người kể chuyện dịu dàng vĩ đại nhất của thế gian.


(...) 


5.


Suốt cuộc đời mình, tôi luôn bị mê hoặc bởi hệ thống của những mối tương liên và tác động qua lại mà chúng ta thường không hay biết, nhưng lại tình cờ khám phá ra qua những sự trùng hợp đáng kinh ngạc hay những điểm hội tụ của số phận tất cả những cây cầu, đai ốc, bu-lông, mối hàn và đầu nối mà tôi đã lần theo trong cuốn Những người bay . Tôi bị cuốn hút bởi việc liên kết các sự kiện và tìm kiếm trật tự. Về căn bản như tôi hằng tin tưởng tâm trí nhà văn là một tâm trí tổng hợp, kiên trì gom nhặt từng mảnh vụn li ti nhằm nỗ lực gắn kết chúng lại để tạo nên một tổng thể phổ quát.


Chúng ta phải viết như thế nào, phải cấu trúc câu chuyện của mình ra sao để nó đủ sức nâng đỡ hình hài chòm sao vĩ đại này của thế giới?


Tự nhiên, tôi nhận ra rằng không thể nào quay trở lại kiểu câu chuyện về thế giới mà ta từng biết từ thần thoại, ngụ ngôn và truyền thuyết những thứ qua truyền khẩu đã gìn giữ thế giới tồn tại. Ngày nay, câu chuyện sẽ phải đa chiều và phức tạp hơn rất nhiều; suy cho cùng, chúng ta thực sự biết nhiều hơn, chúng ta ý thức được những mối liên hệ kỳ diệu giữa những sự vật tưởng chừng cách xa muôn trùng.


Hãy cùng nhìn sâu vào một thời khắc cụ thể trong lịch sử thế giới.


Đó là ngày 3 tháng 8 năm 1492, ngày chiếc thuyền buồm nhỏ mang tên Santa Maria chuẩn bị nhổ neo từ bến cảng Palos ở Tây Ban Nha. Con tàu do Christopher Columbus chỉ huy. Mặt trời tỏa nắng, thủy thủ đi lại rộn rịp trên cầu cảng, và những người phu khuân vác đang chất những thùng lương thực cuối cùng lên tàu. Trời nóng nực, nhưng làn gió nhẹ từ phía tây đã cứu những gia đình đến tiễn biệt khỏi ngất xỉu. Những cánh hải âu nghênh ngang đi đi lại lại trên đường dẫn xuống tàu, chăm chú quan sát mọi hoạt động của con người.


Khoảnh khắc mà giờ đây ta có thể nhìn xuyên qua thời gian ấy đã dẫn tới cái chết của 56 triệu người trong tổng số gần 60 triệu người bản địa châu Mỹ. Vào thời điểm đó, họ chiếm khoảng 10% toàn bộ dân số thế giới. Người châu Âu đã vô tình mang đến cho họ những món quà chết chóc: bệnh tật và vi khuẩn mà cư dân bản địa châu Mỹ không có khả năng miễn dịch. Trên hết là sự áp bức tàn bạo và những cuộc tàn sát. Cuộc diệt chủng kéo dài nhiều năm trời và làm thay đổi bản chất của vùng đất. Nơi từng bạt ngàn đậu, ngô, khoai tây và cà chua trên những cánh đồng canh tác được tưới tiêu tinh vi, thảm thực vật hoang dại đã trở lại. Chỉ trong vài năm, gần 150 triệu mẫu Anh đất canh tác đã biến thành rừng rậm nhiệt đới.


Trong quá trình tái sinh, thảm thực vật đã hấp thụ một lượng khổng lồ khí carbon dioxide, do đó làm suy yếu hiệu ứng nhà kính, và điều đó lại làm hạ nhiệt độ toàn cầu của Trái Đất.


Đây là một trong nhiều giả thuyết khoa học nhằm giải thích sự khởi đầu của Thời kỳ Băng hà Nhỏ - giai đoạn vào cuối thế kỷ mười sáu đã mang lại sự lạnh giá kéo dài cho khí hậu châu Âu.


Thời kỳ Băng hà Nhỏ đã làm biến đổi nền kinh tế châu Âu. Trong suốt những thập kỷ tiếp theo, mùa đông băng giá kéo dài, mùa hè mát mẻ và lượng mưa dữ dội đã làm giảm năng suất của các hình thức canh tác truyền thống. Ở Tây Âu, những trang trại gia đình nhỏ sản xuất lương thực tự cung tự cấp tỏ ra kém hiệu quả. Những làn sóng đói kém kéo theo sau đó, cùng nhu cầu phải chuyên môn hóa sản xuất. Nước Anh và Hà Lan chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi khí hậu lạnh giá; khi nền kinh tế không còn trông cậy vào nông nghiệp được nữa, họ bắt đầu phát triển thương mại và công nghiệp. Nguy cơ từ các cơn bão đã thúc đẩy người Hà Lan thau chua rửa mặn các vùng đất lấn biển, biến các vùng đầm lầy và vùng biển nông thành đất liền. Việc ngư trường cá tuyết dịch chuyển về phía nam dẫu là thảm họa đối với vùng Scandinavia lại chứng tỏ là lợi thế cho Anh và Hà Lan, cho phép các quốc gia này bắt đầu vươn mình thành các cường quốc hải quân và thương mại. Sự lạnh đi rõ rệt được cảm nhận đặc biệt sâu sắc tại các nước Bắc Âu. Liên lạc với Greenland và Iceland bị cắt đứt, những mùa đông khắc nghiệt làm mùa màng thất bát, những năm tháng đói kém và thiếu thốn ập đến. Vì vậy, Thụy Điển đã hướng ánh mắt thèm thuồng về phía nam, phát động chiến tranh chống lại Ba Lan (nhất là khi biển Baltic đã đóng băng, giúp quân đội dễ dàng hành quân băng qua) và dấn thân vào cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm ở châu Âu.


Những nỗ lực của các nhà khoa học trong việc kiến tạo một sự hiểu biết sâu sắc hơn về thực tại cho thấy thế giới là một hệ thống các tác động qua lại mạch lạc và kết nối chằng chịt. Đây không còn đơn thuần là “hiệu ứng cánh bướm” trứ danh - thứ mà như ta đã biết, nói về cách những biến đổi vi tế ở đầu tiến trình có thể dẫn đến những kết quả khổng lồ khôn lường trong tương lai mà ở đây ta có vô số cánh bướm cùng đôi cánh của chúng, không ngừng chuyển động: một làn sóng sự sống mãnh liệt du hành xuyên thời gian.


Theo quan điểm của tôi, việc phát hiện ra “hiệu ứng cánh bướm” đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên niềm tin sắt đá vào năng lực tạo ra hiệu quả của chính mình, vào khả năng kiểm soát của chúng ta, và cùng với đó là cảm giác thượng đẳng của con người trên thế gian. Điều này không tước đi quyền năng của con người trong tư cách là kẻ kiến thiết, kẻ chinh phục và nhà phát minh, nhưng nó minh họa rằng hiện thực phức tạp hơn nhiều so với những gì con người từng mường tượng. Và rằng chúng ta chẳng qua chỉ là một phần nhỏ bé trong các tiến trình ấy. Chúng ta ngày càng có thêm nhiều bằng chứng về sự tồn tại của những mối phụ thuộc ngoạn mục, đôi khi vô cùng đáng kinh ngạc trên quy mô toàn cầu.


Tất cả chúng ta con người, thực vật, muông thú và đồ vật đều đắm mình trong một không gian duy nhất, nơi bị chi phối bởi các định luật vật lý. Không gian chung này có hình hài của nó, và bên trong nó, các định luật vật lý tạc nên vô số hình thái không ngừng liên kết với nhau. Hệ thống tim mạch của chúng ta tương tự như mạng lưới của một lưu vực sông, cấu trúc của một chiếc lá giống như hệ thống giao thông của con người, sự chuyển động của các thiên hà tựa như vòng xoáy nước chảy cuộn xuống bồn rửa tay. Xã hội loài người phát triển theo cách tương tự như các khuẩn lạc vi khuẩn. Quy mô vi mô và vĩ mô phơi bày một hệ thống tương đồng vô tận.


Lời nói, tư duy và sự sáng tạo của chúng ta không phải là thứ gì đó trừu tượng, tách rời khỏi thế giới, mà là sự tiếp nối ở một cấp độ khác của những tiến trình biến chuyển bất tận nơi cõi hoàn vũ.


6.


Tôi không ngừng tự hỏi liệu ngày nay có thể tìm ra nền tảng cho một câu chuyện mới mang tính phổ quát, toàn diện, bao trùm tất thảy, bắt rễ từ tự nhiên, ngập tràn ngữ cảnh nhưng đồng thời vẫn dễ hiểu hay không.
Liệu có thể có một câu chuyện vượt ra ngoài nhà tù khép kín của cái tôi cá nhân, hé lộ một phạm vi hiện thực rộng lớn hơn và phơi bày những mối liên kết tương hỗ? Một câu chuyện có khả năng giữ khoảng cách với điểm trung tâm mòn nhẵn, hiển nhiên và sáo mòn của những ý kiến đám đông cùng chia sẻ, và có thể nhìn nhận sự vật một cách “lệch tâm”, tách khỏi trung tâm?


Tôi vui mừng khôn xiết khi văn học đã bảo tồn một cách kỳ diệu quyền được lập dị, ảo giác, khiêu khích, giễu nhại và điên rồ. Tôi mơ về những điểm nhìn trên cao và những góc nhìn khoáng đạt, nơi ngữ cảnh vượt xa những gì ta hằng mong đợi. Tôi mơ về một thứ ngôn ngữ có khả năng diễn đạt trực giác mơ hồ nhất, tôi mơ về một ẩn dụ vượt qua mọi dị biệt văn hóa, và sau cùng là một thể loại bao dung và có tính vượt ngưỡng, nhưng đồng thời độc giả vẫn say mê đón nhận.


Tôi cũng mơ về một kiểu người kể chuyện mới - người kể chuyện ở “ngôi thứ tư”  người dĩ nhiên không đơn thuần là một cấu trúc ngữ pháp, mà là kẻ quản lý được góc nhìn của từng nhân vật, cũng như sở hữu năng lực bước qua đường chân trời của mỗi người trong số họ, kẻ nhìn thấy nhiều hơn và có tầm nhìn rộng lớn hơn, kẻ có khả năng phớt lờ thời gian. Ồ vâng, tôi tin sự hiện hữu của người kể chuyện này là hoàn toàn khả thi.


Đã bao giờ bạn tự hỏi ai là người kể chuyện kỳ diệu trong Kinh Thánh - người cất tiếng dõng dạc: “Ban đầu có Ngôi Lời”? Ai là người kể chuyện mô tả sự sáng thế của thế giới, ngày đầu tiên của nó, khi sự hỗn mang được tách khỏi trật tự; người dõi theo thiên trường ca nhiều tập về nguồn gốc vũ trụ; người thấu suốt tâm tư của Thiên Chúa, thấu hiểu những hồ nghi của Ngài, và bằng bàn tay vững vàng đã đặt xuống trang giấy câu văn phi thường: “Và Thiên Chúa thấy điều đó là tốt đẹp”? Kẻ ấy là ai, người biết được Thiên Chúa nghĩ gì?
Gạt sang một bên mọi nghi vấn thần học, chúng ta có thể coi hình tượng người kể chuyện bí ẩn, dịu dàng này là điều kỳ diệu và đầy ý nghĩa. Đây là một điểm nhìn, một góc quan sát mà từ đó vạn vật đều có thể được trông thấy. Trông thấy tất cả đồng nghĩa với việc nhận ra sự thật tối hậu rằng vạn vật tồn tại đều được liên kết tương hỗ thành một tổng thể duy nhất, ngay cả khi những kết nối giữa chúng ta vẫn chưa thể tường minh. Trông thấy tất cả cũng đồng nghĩa với một dạng trách nhiệm hoàn toàn khác đối với thế giới, bởi hiển nhiên rằng mỗi cử chỉ “ở đây” đều liên đới tới một cử chỉ “ở đằng kia”, một quyết định được đưa ra ở một phần của thế giới sẽ gây ra tác động ở một phần khác, và việc phân định giữa “của tôi” và “của bạn” bắt đầu trở nên đáng ngờ. Vì vậy, tốt nhất là hãy kể những câu chuyện một cách chân thực theo phương thức kích hoạt cảm thức về cái toàn thể trong tâm trí người đọc, khơi dậy năng lực hợp nhất các mảnh vỡ thành một cấu trúc duy nhất, và khám phá ra cả những chòm sao nguyên vẹn trong những hạt bụi nhỏ nhoi của biến cố. Hãy kể một câu chuyện làm sáng tỏ rằng tất cả mọi người và vạn vật đều thấm đẫm trong một ý niệm chung, thứ mà ta dày công tạo tác trong tâm trí theo từng vòng quay của tinh cầu.


Văn học có sức mạnh để làm điều đó. Chúng ta nên gạt bỏ những phạm trù giản lược về văn học bác học và bình dân, đại chúng và ngách, đồng thời hãy xem nhẹ sự phân chia theo thể loại. Chúng ta nên từ bỏ định nghĩa về “các nền văn học dân tộc”, khi biết rằng vũ trụ văn học là một thể thống nhất duy nhất, tựa như ý niệm về unus mundus (thế giới nhất thể) - một thực tại tâm lý chung nơi kinh nghiệm con người được quy tụ. Tác giả và Độc giả thực hiện những vai trò tương đương nhau: kẻ trước bằng sức sáng tạo, người sau bằng nỗ lực diễn giải không ngừng nghỉ.


Có lẽ chúng ta nên đặt niềm tin vào các mảnh vỡ, bởi chính các mảnh vỡ tạo nên những chòm sao có khả năng mô tả nhiều hơn, theo một cách phức hợp và đa chiều hơn. Những câu chuyện của chúng ta có thể quy chiếu vào nhau vô tận, và các nhân vật trung tâm của chúng có thể bước vào những mối tương quan với nhau.


Tôi nghĩ chúng ta đang đứng trước một cuộc tái định nghĩa về những gì ngày nay ta hiểu dưới khái niệm chủ nghĩa hiện thực, và một cuộc tìm kiếm một chủ nghĩa hiện thực mới cho phép ta vượt qua giới hạn của bản ngã và xuyên thấu màn hình gương mà qua đó ta nhìn ngắm thế giới. Bởi lẽ ngày nay, nhu cầu về hiện thực đã được đáp ứng bởi truyền thông, các trang mạng xã hội và những mối quan hệ gián tiếp trên internet. Có lẽ điều tất yếu đang đợi ta phía trước là một dạng thức tân siêu thực, những điểm nhìn được tái sắp đặt không ngần ngại đương đầu với nghịch lý, và đi ngược lại lề thói thông thường của trật tự nhân quả giản đơn. Quả thực, hiện thực của chúng ta vốn dĩ đã trở nên siêu thực rồi. Tôi cũng chắc chắn rằng nhiều câu chuyện đòi hỏi phải được viết lại trong những bối cảnh tri thức mới, lấy cảm hứng từ các lý thuyết khoa học mới. Nhưng tôi thấy việc liên tục quy chiếu về huyền thoại và toàn bộ cõi tưởng tượng của nhân loại cũng quan trọng không kém. Việc quay trở lại với những cấu trúc cô đọng của thần thoại có thể mang lại cảm giác ổn định giữa tình trạng thiếu vắng định nghĩa mà chúng ta đang sống hôm nay. Tôi tin rằng huyền thoại là vật liệu xây dựng nên tâm thức chúng ta, và ta không tài nào có thể phớt lờ chúng (cùng lắm là ta chỉ không ý thức được ảnh hưởng của chúng mà thôi).


Chắc chắn sẽ sớm xuất hiện một bậc kỳ tài đủ sức kiến tạo nên một lối tự sự hoàn toàn khác biệt, chưa từng tưởng tượng nổi, nơi mọi điều cốt tủy đều được dung nạp. Phương thức kể chuyện này nhất định sẽ làm thay đổi chúng ta; chúng ta sẽ trút bỏ những góc nhìn cũ kỹ, tù túng và mở lòng đón nhận những góc nhìn mới mẻ vốn kỳ thực đã luôn hiện hữu đâu đó quanh đây, chỉ là ta từng mù quáng trước chúng.


Trong Doctor Fautus (Tiến sĩ Faustus), Thomas Mann đã viết về một nhà soạn nhạc phát minh ra một hình thức âm nhạc tuyệt đối mới có khả năng làm thay đổi tư duy con người. Nhưng Mann không mô tả âm nhạc ấy dựa trên điều gì, ông chỉ đơn thuần tạo ra ý niệm tưởng tượng về việc nó có thể vang lên như thế nào. Có lẽ vai trò của người nghệ sĩ trông cậy vào chính điều đó: mang lại một dự vị về thứ gì đó có thể tồn tại, và nhờ đó khiến nó trở nên khả niệm trong tưởng tượng. Và được tưởng tượng ra chính là giai đoạn đầu tiên của sự hiện sinh.


7.


Tôi viết hư cấu, nhưng đó chưa bao giờ là sự thêu dệt thuần túy. Khi viết, tôi phải cảm nhận mọi thứ bên trong chính mình. Tôi phải để mọi sinh linh và đồ vật xuất hiện trong cuốn sách đi qua tôi - mọi thứ thuộc về con người và vượt lên trên con người, mọi thứ sống động và những vật không được phú cho sự sống. Tôi phải ngắm nhìn tỉ mỉ từng đồ vật và từng con người, với sự trang nghiêm tột bậc, và nhân cách hóa chúng bên trong mình, cá nhân hóa chúng.


Đó là điều mà sự dịu dàng phục vụ tôi bởi sự dịu dàng chính là nghệ thuật nhân cách hóa, nghệ thuật sẻ chia cảm xúc, và nhờ đó không ngừng khám phá ra những điểm tương đồng. Sáng tạo những câu chuyện đồng nghĩa với việc không ngừng thổi hồn vào vạn vật, trao sự hiện sinh cho mọi mảnh vụn nhỏ bé của thế giới vốn được đại diện bởi những kinh nghiệm của con người, những hoàn cảnh con người đã trải qua và ký ức của họ. Sự dịu dàng cá nhân hóa mọi thứ mà nó chạm tới, giúp ta có thể trao cho nó một tiếng nói, trao cho nó không gian và thời gian để bước vào sự hiện hữu và được cất lời. Nhờ có sự dịu dàng mà chiếc ấm trà mới bắt đầu cất tiếng.


Dịu dàng là hình thái khiêm nhường nhất của tình yêu. Đó là thứ tình yêu không xuất hiện trong kinh thánh hay các sách phúc âm; chẳng ai thề thốt vì nó, chẳng ai trích dẫn nó. Nó không có huy hiệu hay biểu tượng đặc biệt, cũng chẳng dẫn tới tội ác hay khơi mào lòng đố kỵ.


Nó xuất hiện ở bất cứ nơi đâu ta đưa mắt nhìn ngắm thật kỹ lưỡng và cẩn trọng một hữu thể khác, một thứ gì đó không phải là “cái tôi” của chính mình.


Dịu dàng là sự bột phát và vị tha vô vụ lợi; nó vượt xa khỏi sự cảm thông thấu hiểu thông thường. Thay vào đó, nó là sự sẻ chia số phận một cách có ý thức, dẫu có lẽ đượm chút u hoài. Dịu dàng là nỗi bận lòng sâu sắc về mặt cảm xúc đối với một hữu thể khác: sự mong manh của nó, bản chất độc nhất của nó, và việc nó không hề có khả năng miễn nhiễm trước nỗi đau cùng sự tàn phá của thời gian. Sự dịu dàng nhận biết những sợi dây liên kết chúng ta, những nét tương đồng và đồng nhất giữa chúng ta. Đó là một cách nhìn nhận thế giới như một thực thể sống động, đang sinh tồn, kết nối tương hỗ, hợp tác và đồng phụ thuộc vào chính bản thân nó.
Văn học được kiến tạo dựa trên sự dịu dàng hướng về bất kỳ hữu thể nào khác ngoài chính chúng ta. Đó là cơ chế tâm lý cơ bản của tiểu thuyết. Nhờ có công cụ kỳ diệu này phương tiện tinh vi nhất của sự giao tiếp của con người kinh nghiệm của chúng ta có thể du hành xuyên thời gian, chạm tới những người còn chưa sinh ra, nhưng một ngày nào đó sẽ tìm về những gì chúng ta đã viết, những câu chuyện chúng ta từng kể về bản thân mình và thế giới của chúng ta.


Tôi chẳng thể nào biết cuộc đời họ sẽ ra sao, hay họ sẽ là ai. Tôi thường nghĩ về họ với một cảm thức tội lỗi và xấu hổ.


Tình trạng khẩn cấp về khí hậu và cuộc khủng hoảng chính trị mà chúng ta đang cố gắng tìm lối thoát hôm nay những điều mà ta đang nôn nóng muốn chống lại để cứu lấy thế giới không phải tự nhiên mà đến. Chúng ta thường quên mất rằng chúng không đơn thuần là hệ quả của một sự trớ trêu của số phận hay định mệnh, mà bắt nguồn từ những động thái và quyết định rất cụ thể về kinh tế, xã hội và nhân sinh quan (kể cả tôn giáo). Lòng tham lam, sự bất kính trước tự nhiên, thói ích kỷ, sự thiếu vắng trí tưởng tượng, những cuộc kình địch không hồi kết và sự vô trách nhiệm đã giáng cấp thế giới xuống thành thân phận của một đồ vật có thể bị xẻ thịt thành từng mảnh, bị vắt kiệt và hủy diệt.


Chính vì vậy, tôi tin rằng mình phải kể những câu chuyện như thể thế giới là một thực thể sống động, duy nhất, không ngừng định hình ngay trước mắt chúng ta, và như thể chúng ta là một phần nhỏ bé nhưng đồng thời đầy quyền năng của thực thể ấy.

LAN ANH dịch


olga-tokarczuk

 

Đang xem: Olga Takarcruk: Người Kể Chuyện Dịu Dàng (Diễn Từ Nobel Văn Học 2019)

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
Giỏ Hàng