V.S. Naipaul: Tại Sao Tôi Viết Sách Phi Hư Cấu?

V.S. Naipaul: Tại Sao Tôi Viết Sách Phi Hư Cấu?

Trích “Reading & Writing: A Personal Account” của V.S. Naipaul 

 


 

TRONG NHỮNG ẢO TƯỞNG về việc trở thành một nhà văn, tôi chưa từng có lấy một ý niệm nào về việc thực sự mình sẽ bắt tay vào viết một cuốn sách ra sao. Tôi cho rằng - tôi không dám chắc - rằng trong cái mộng tưởng ấy có một ý niệm mơ hồ rằng một khi tôi hoàn thành cuốn đầu tiên, những cuốn khác sẽ tự động nối gót theo sau.

 

Tôi nhận ra mọi chuyện không phải như vậy. Chất liệu không cho phép điều đó. Trong những ngày tháng đầu tiên ấy, mỗi một cuốn sách mới đồng nghĩa với việc lại phải đối mặt với khoảng trắng cũ kỹ và quay trở về vạch xuất phát. Những cuốn sách sau này cũng đến hệt như cuốn đầu tiên, chỉ được thôi thúc bởi mong muốn tạo ra một cuốn sách, với một sự chộp giật đầy trực giác, ngây thơ hay tuyệt vọng vào các ý tưởng và chất liệu, mà không hoàn toàn thấu hiểu chúng có thể dẫn mình về đâu. Sự thấu hiểu đến cùng với việc viết. Mỗi cuốn sách đưa tôi đến một sự hiểu biết sâu sắc hơn và cảm nhận sâu thẳm hơn, và điều đó dẫn đến một lối viết khác biệt. Mỗi cuốn sách là một bến đỗ trong một quá trình khám phá; nó không thể bị lặp lại. Chất liệu của tôi - quá khứ của tôi, vốn bị chia cắt khỏi tôi bởi cả ranh giới địa lý - đã cố định và, giống hệt như chính tuổi thơ, đã trọn vẹn; nó không thể được đắp bồi thêm nữa. Cái lối viết lách này đã vắt kiệt nó. Chỉ trong vòng năm năm, tôi đã đi đến giới hạn cuối cùng. Trí tưởng tượng viết lách của tôi giống như một tấm bảng đen nguệch ngoạc nét phấn, được lau sạch qua từng giai đoạn, và đến cuối cùng lại trở nên trắng trơn, tabula rasa (một tờ giấy trắng). 

 

Hư cấu đã đưa tôi đi xa nhất có thể. Có những điều nhất định mà nó không thể giải quyết. Nó không thể giải quyết những năm tháng của tôi ở nước Anh; không có chiều sâu xã hội nào trong trải nghiệm ấy; nó có vẻ giống một vấn đề tự truyện hơn. Và nó không thể giải quyết sự hiểu biết ngày một lớn của tôi về một thế giới rộng lớn hơn. Hư cấu, xét theo bản chất của nó, vốn hoạt động tốt nhất trong những lằn ranh xã hội cố định, dường như đang đẩy tôi lùi lại vào những thế giới - như thế giới trên đảo, hay thế giới tuổi thơ tôi - nhỏ bé hơn thế giới mà tôi đang cư ngụ. Hư cấu, thứ từng giải phóng tôi và khai sáng cho tôi, giờ đây dường như đang xô đẩy tôi trở nên đơn giản hơn bản chất thực của mình. Trong một vài năm - ba, có lẽ là bốn năm - tôi không biết phải bước tiếp ra sao; tôi hoàn toàn lạc lối.

 

Gần như toàn bộ cuộc đời trưởng thành của tôi đã trôi qua ở những đất nước nơi tôi chỉ là một kẻ xa lạ. Dưới tư cách là một nhà văn, tôi không thể vượt ra ngoài trải nghiệm đó. Để trung thực với trải nghiệm ấy, tôi phải viết về những con người ở trong vị thế giống như thế. Tôi đã tìm ra cách để làm điều đó; nhưng tôi chưa bao giờ thôi cảm thấy nó như một sự kìm kẹp. Nếu tôi chỉ biết nhờ cậy vào tiểu thuyết, có lẽ tôi đã sớm thấy mình chẳng còn phương tiện nào để tiến bước, dẫu cho tôi đã tự rèn giũa bản thân trong lối tự sự văn xuôi và luôn tràn trề sự hiếu kỳ về thế giới cùng con người.

 

Nhưng vẫn còn những hình thức khác đáp ứng được nhu cầu của tôi. Một sự tình cờ từ khá sớm đã mang đến cho tôi một chuyến công du đi qua những thuộc địa nô lệ cũ ở vùng Caribe và vùng Spanish Main cổ kính. Tôi đã nhận lời vì lợi ích của chính chuyến đi; tôi chưa suy nghĩ nhiều về hình thức văn chương lúc ấy.

 

Tôi từng có ý niệm rằng sách du ký là một khúc dạo giữa đầy hào nhoáng trong cuộc đời của một nhà văn nghiêm túc. Nhưng những nhà văn mà tôi khắc sâu trong tâm trí - và chẳng thể có ai khá - -đều là những con người của chốn chính quốc đại đô thị, như Huxley, Lawrence, Waugh. Tôi không giống họ. Họ viết vào thời kỳ của đế quốc; bất kể tính cách của họ ở quê nhà ra sao, trong những chuyến viễn du, họ không tránh khỏi việc trở nên mang bóng dáng của những kẻ bán-đế-quốc, lợi dụng những sự tình cờ của chuyến đi để định hình nhân cách đế quốc của mình trên một cái phông nền ngoại lai.

 

Chuyến du hành của tôi không hề như thế. Tôi là một công dân thuộc địa đang chu du qua những thuộc địa đồn điền ở Tân Thế giới, những nơi cũng giống hệt như nơi tôi từng lớn lên. Nhìn ngắm, dưới góc độ một du khách, vào những cộng đồng đang nửa bề điêu tàn khác trên những vùng đất bị tước đoạt, trong bối cảnh lãng mạn vĩ đại của Tân Thế giới, là được nhìn thấy, như từ một khoảng cách xa xôi, cộng đồng của chính mình có thể đã trông như thế nào. Đó là được lôi ra khỏi chính mình và ra khỏi những hoàn cảnh trực diện của bản thân - chất liệu của hư cấu - để có được một nhãn quan mới về thế giới mà mình đã được sinh ra, và có được một dự cảm về một chuỗi các sự kiện lịch sử trôi ngược về quá khứ rất xa xôi.

 

Tôi gặp trắc trở với hình thức này. Tôi không biết phải đi du lịch để viết một cuốn sách là như thế nào. Tôi cứ chu du hệt như mình đang trong kỳ nghỉ, và rồi lúng túng, vật lộn tìm kiếm mạch tự sự. Tôi gặp khó khăn với cái "tôi" của một người viết du ký; tôi cứ đinh ninh rằng dưới tư cách là một người du hành và người kể chuyện, anh ta phải nắm trong tay quyền uy không thể bị thách thức và phải đưa ra những phán xét đao to búa lớn.

 

Bất chấp mọi khuyết điểm của nó, cuốn sách ấy, giống như những cuốn tiểu thuyết hư cấu đã qua đi trước đó, đối với tôi là một sự mở rộng của tri thức và xúc cảm. Tôi không thể nào chối bỏ hay lãng quên những gì mình đã học được. Hư cấu, công cuộc khám phá những hoàn cảnh trực diện của bản thân, đã đưa tôi đi được một chặng đường dài. Du hành đã đưa tôi đi xa hơn thế nữa.

 

Lại là sự tình cờ đã đẩy tôi vào việc viết một thể loại sách phi hư cấu khác. Một nhà xuất bản ở Hoa Kỳ đang thực hiện một bộ sách dành cho du khách, và yêu cầu tôi viết một thứ gì đó về xứ thuộc địa. Tôi cứ đinh ninh đó sẽ là một công việc nhẹ nhàng: một chút lịch sử địa phương, một vài hồi ức cá nhân, đôi ba bức tranh được vẽ bằng ngôn từ.

 

Tôi đã nghĩ, bằng một sự ngây thơ lạ lùng nào đó, rằng trong thế giới của chúng ta mọi tri thức đều sẵn có, rằng mọi lịch sử đều được cất giữ ở một nơi nào đó và có thể được khôi phục tùy theo nhu cầu. Giờ đây tôi mới vỡ lẽ rằng chẳng có chút lịch sử địa phương nào để mà tham khảo. Chỉ có dăm ba cuốn sách hướng dẫn du lịch trong đó lặp đi lặp lại những truyền thuyết nhất định. Xứ thuộc địa ấy vốn chưa bao giờ quan trọng; quá khứ của nó đã bốc hơi mất dạng. Trong một số cuốn cẩm nang, người ta còn đưa ra một điểm khôi hài rằng thuộc địa này là một nơi mà chẳng có sự kiện gì đáng ghi nhận từng xảy ra kể từ chuyến viếng thăm của Ngài Walter Raleigh vào năm 1595.

 

Tôi đành phải tìm đến các văn khố. Có những bản báo cáo của các lữ khách. Có những giấy tờ chính thức của chính phủ Anh. Tại Bảo tàng Anh, có vô vàn những pho tư liệu khổng lồ sao chép lại các hồ sơ của Tây Ban Nha có liên quan, được chính phủ Anh đào xới từ các văn khố Tây Ban Nha vào những năm 1890, vào thời điểm xảy ra vụ tranh chấp biên giới giữa Guiana thuộc Anh và Venezuela. Tôi lục lọi trong các hồ sơ để tìm kiếm con người và câu chuyện của họ. Đó là cách tốt nhất để sắp xếp cấu tứ chất liệu, và đó cũng là cách viết duy nhất tôi biết. Nhưng đó là một công việc nhọc nhằn, cặm cụi bới móc đống giấy tờ, và chắt lọc các chi tiết từ năm hay sáu hoặc nhiều tài liệu hơn thế chỉ để viết ra một đoạn tự sự. Cuốn sách mà tôi cứ ngỡ mình sẽ hoàn thành trong vài tháng rốt cuộc đã ngốn mất hai năm trời ròng rã.

 

Các văn khố đã đưa tôi lội ngược dòng thời gian về gần sát với thời khắc của sự phát kiến. Chúng phơi bày trước mắt tôi những cư dân bản địa, những vị chủ nhân của biển cả và sông ngòi, luôn tất bật với những công việc của riêng mình, sở hữu mọi kỹ năng mà họ cần trong những thế kỷ đã qua, nhưng lại hoàn toàn bất lực trước những kẻ mới đến, để rồi bị chà đạp và bóc lột trong suốt hai trăm năm tiếp theo cho đến khi thảy chỉ còn là con số không, chìm trong nạn nghiện rượu, bị giam hãm trong các khu bảo tồn truyền giáo, và cuối cùng là tuyệt diệt. Sau đó, trên cái vùng hoang dã do bàn tay con người tạo ra này, vào cuối thế kỷ mười tám, các đồn điền nô lệ được vạch ra, cùng với những đường nét thẳng tắp của một thị trấn Tây Ban Nha kiểu mới.

 

Ở trường học, trong giờ lịch sử, nô lệ chỉ là một danh từ. Một ngày nọ trên sân trường, trong tiết học của thầy Worm, khi có vài lời bàn luận về chủ đề này, tôi nhớ mình đã cố gắng gán cho từ ấy một ý nghĩa: ngước nhìn lên những ngọn đồi ở phía bắc thành phố và mường tượng rằng những ngọn đồi kia hẳn từng được ngắm nhìn bởi những con người chẳng có lấy tự do. Ý niệm ấy quá đỗi đau đớn để có thể bám víu vào.

 

Giờ đây, nhiều năm sau cái khoảnh khắc trên sân trường nọ, những hồ sơ tài liệu này đã khiến cái thời kỳ nô lệ ấy hiện hình chân thực. Chúng cho tôi những cái nhìn thoáng qua về cuộc sống ở các đồn điền. Có một đồn điền hẳn đã từng nằm rất gần trường học; một con phố cách đó không xa vẫn mang cái tên gốc Pháp đã được Anh hóa của người chủ nhân từ thế kỷ mười tám. Qua những trang tài liệu, tôi đã viếng thăm - và rất thường xuyên - cái nhà tù thành phố, nơi mà công việc chính của gã cai ngục người Pháp và gã phụ tá nô lệ của hắn là trừng phạt những nô lệ khác (chi phí tính theo mức độ trừng phạt, và các chủ đồn điền là người trả tiền), và nơi có những xà lim thiêu đốt đặc biệt, nằm ngay bên dưới lớp ván lợp mái, dành riêng cho những nô lệ bị cho là phù thủy.

 

Từ hồ sơ của một phiên tòa xét xử tội giết người dị thường - một nô lệ đã giết một nô lệ khác tại đám tang của một người phụ nữ da màu tự do - tôi mường tượng ra được đời sống nô lệ trên các con phố vào những năm 1790, và thấu hiểu rằng cái kiểu đường phố mà chúng tôi đang sống, và cái nhịp điệu đời sống đường phố mà tôi từng quan sát từ xa, thực chất rất gần gũi với những con phố và đời sống của một trăm năm mươi năm về trước. Cái ý niệm đó, về một bề dày lịch sử hay một phả hệ dành cho những con phố thành thị, hoàn toàn mới mẻ đối với tôi. Những gì tôi từng biết dường như chỉ là những thứ tầm thường, thiếu quy hoạch, cứ hiện diện ở đó, và chẳng có gì giống như là một quá khứ. Nhưng quá khứ đã nằm ngay ở đó: trên khoảng sân trường, trong tiết học của thầy Worm, dưới gốc me tây, chúng tôi có lẽ đang đứng ngay trên mảnh đất thuộc điền trang Bel-Air của Dominique Dert, nơi mà vào năm 1803, gã commandeur - tức quản đốc hay đội trưởng của điền trang - xuất phát từ một thứ tình yêu méo mó dành cho người chủ của mình, đã rắp tâm hạ độc những nô lệ khác.

 

Còn ám ảnh hơn thế nữa là ý nghĩ về những cư dân bản địa đã tan biến vào hư vô, những người mà trên mảnh đất của họ, và giữa những linh hồn của họ, tất cả chúng tôi đang nương náu. Cái thị trấn miền quê nơi tôi cất tiếng khóc chào đời, và nơi mà tại một khoảng rừng thưa giữa đồng mía tôi đã được xem vở Ramlila của chúng tôi, mang một cái tên bản địa. Một ngày nọ trong Bảo tàng Anh, tôi tình cờ phát hiện ra - trong một bức thư từ năm 1625 của vị vua Tây Ban Nha gửi cho viên thống đốc địa phương - rằng đó từng là tên của một bộ tộc nhỏ bé đầy phiền nhiễu với quy mô chỉ vỏn vẹn hơn một ngàn người. Vào năm 1617, họ đã làm hoa tiêu dẫn đường trên sông cho những kẻ cướp bóc người Anh. Tám năm sau - Tây Ban Nha có một trí nhớ dai dẳng - viên thống đốc Tây Ban Nha đã tập hợp đủ lực lượng để giáng một đòn trừng phạt tập thể không xác định nào đó lên bộ tộc này; và cái tên của họ đã bốc hơi hoàn toàn khỏi mọi sổ sách.

 

Đây không chỉ là một sự thật về những người bản địa. Ở một chừng mực nào đó, nó đã làm biến đổi quá khứ của chính tôi. Tôi không còn có thể xem vở Ramlila mà mình từng xem thuở bé như một thứ diễn ra ở ngay điểm khởi thủy của vạn vật nữa. Trong tâm tưởng, tôi buộc phải nhường chỗ cho những con người thuộc về một chủng tộc khác ngay trên mảnh đất diễn ra vở Ramlila ấy. Bản thân hư cấu, nếu đứng riêng lẻ, sẽ không bao giờ có thể đưa tôi đến một sự thấu cảm rộng lớn như thế này.

 

Tôi không bao giờ viết một cuốn sách nào như thế nữa, chỉ làm việc dựa trên rặt những tài liệu khô khan. Nhưng cái kỹ thuật mà tôi đã lĩnh hội được - việc nhìn xuyên qua vô vàn những ấn tượng đa chiều để chạm tới một mạch tự sự trung tâm về con người - là thứ mà tôi đã mang theo vào những cuốn du ký (hay nói đúng hơn là những cuộc khảo cứu) mà tôi đã thực hiện trong suốt ba mươi năm tiếp theo. Và như thế, khi thế giới của tôi mở rộng ra, vượt ra ngoài những hoàn cảnh cá nhân trực diện vốn nuôi dưỡng nên những câu chuyện hư cấu, và khi sự thấu hiểu của tôi ngày một sâu rộng, thì những hình thức văn chương mà tôi thực hành bắt đầu hòa quyện vào nhau và nâng đỡ lẫn nhau; và tôi không thể nói rằng hình thức này thì vượt trội hơn hình thức kia. Hình thức phụ thuộc vào chất liệu; tất thảy những cuốn sách đều là những phần của cùng một tiến trình thấu hiểu. Đó chính là những gì mà cái sự nghiệp viết lách này - thoạt đầu chỉ là sự huyễn hoặc của một đứa trẻ, và rồi sau đó là một khao khát tuyệt vọng hơn để được viết nên những câu chuyện - đã trói buộc tôi vào.

 

Tiểu thuyết vốn là một hình thức ngoại lai được du nhập vào. Đối với nhà văn nơi đế quốc, nó chỉ là một khía cạnh của sự tự nhận thức (self-knowledge). Bao quanh nó là cả một khối khổng lồ những tri thức khác, những hình thức tưởng tượng khác, và những hệ thống kỷ luật khác. Đối với tôi, vào thuở ban đầu, nó lại là tất cả những gì tôi có. Không giống như nhà văn chốn đế quốc, tôi chẳng hề có lấy một sự hiểu biết nào về một quá khứ. Quá khứ của cộng đồng chúng tôi, đối với hầu hết chúng tôi, đã kết thúc ở thế hệ của những người ông; vượt ra khỏi cột mốc đó, chúng tôi chẳng thể nhìn thấy gì. Và cái xứ thuộc địa đồn điền này, đúng như lời những cuốn cẩm nang du lịch khôi hài đã nói, là một nơi mà gần như chẳng có điều gì từng xảy ra. Vì thế, những áng văn hư cấu mà người ta viết ra, về chính những hoàn cảnh trực diện của bản thân mình, cứ bị treo lơ lửng trong một khoảng không vô định, thiếu vắng một bối cảnh, thiếu vắng một sự tự nhận thức rộng lớn hơn vốn luôn được ngầm định trong một cuốn tiểu thuyết mẫu quốc.

 

Khi còn là một đứa trẻ đang bập bẹ tập đọc, tôi đã cảm nhận được rằng có hai thế giới đang ngăn cách tôi với những cuốn sách mà tôi được trao cho ở trường học và trong các thư viện: thế giới tuổi thơ về một Ấn Độ đọng lại trong ký ức, và thế giới mang đậm tính thuộc địa hơn của thành phố chúng tôi. Tôi từng đinh ninh rằng những trắc trở ấy có liên quan đến những sự xáo trộn về mặt xã hội và cảm xúc trong tuổi thơ tôi - cái cảm giác như bước vào rạp chiếu bóng khi bộ phim đã bắt đầu chiếu từ rất lâu - và rằng những trắc trở ấy sẽ cuốn theo chiều gió khi tôi lớn lên. Điều mà tôi không biết, ngay cả sau khi tôi đã viết xong những cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, vốn dĩ chỉ bận tâm đến câu chuyện và các nhân vật, đến việc làm sao để đi tới cái kết và cài cắm những trò đùa cho thật khéo, là hai khối tăm tối ấy đã trở thành chủ đề của chính tôi. Hư cấu, bằng cách thi triển những phép màu nhiệm của nó, bằng việc đi đường vòng để tìm ra đường thẳng, đã dẫn lối cho tôi tìm đến chủ đề của đời mình. Nhưng nó đã không thể đưa tôi đi trọn vẹn cả con đường.

 

HƯƠNG GIANG dịch


v-s-naipaul
  
 

Đang xem: V.S. Naipaul: Tại Sao Tôi Viết Sách Phi Hư Cấu?

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
Giỏ Hàng