BẢN DỊCH
Rất có thể, nếu cô Cassandra Austen được làm theo ý mình, chúng ta hẳn đã chẳng có gì của Jane Austen ngoại trừ những cuốn tiểu thuyết của bà. Chỉ với riêng người chị gái ấy, bà mới có thể thoải mái buông bút; chỉ với riêng người chị ấy, bà mới thổ lộ những niềm hy vọng, và nếu lời đồn đại là thật, cả nỗi thất vọng lớn lao nhất trong đời mình; nhưng khi cô Cassandra Austen đã về già, và sự tiếng tăm ngày một lớn của người em gái khiến cô ngờ rằng sẽ có một ngày những người xa lạ bắt đầu tò mò nhòm ngó và giới học giả thì mặc sức suy đoán, cô đã tự tay đốt đi, với một cái giá rất đắt đối với chính mình, mọi bức thư có thể thỏa mãn sự hiếu kỳ của họ, và chỉ chừa lại những gì cô cho là quá đỗi vụn vặt để có thể gợi lên chút hứng thú nào.
Bởi vậy, những gì chúng ta biết về Jane Austen chỉ được chắp vá từ dăm ba lời đồn thổi, vài bức thư mỏng manh, và những cuốn sách của bà. Còn về phần những lời đồn, một lời đồn đã sống sót qua thời đại của nó thì chẳng bao giờ là thứ đáng bỏ đi; chỉ cần nhào nặn lại đôi chút, nó sẽ phục vụ cho mục đích của chúng ta một cách tuyệt hảo. Chẳng hạn, cô em họ nhỏ Philadelphia Austen từng nhận xét về Jane rằng: "Jane chẳng xinh đẹp chút nào và lại còn vô cùng cứng nhắc, chẳng giống một đứa trẻ mười hai tuổi... Jane thì kỳ quặc và điệu bộ." Rồi ta lại có bà Mitford, người từng biết chị em nhà Austen từ thuở thiếu thời và coi Jane là "con bướm săn chồng xinh đẹp nhất, ngớ ngẩn nhất, và điệu bộ nhất mà bà từng nhớ." Tiếp đến, là một người bạn giấu tên của cô Mitford, "người hiện đang đến thăm cô và nói rằng Jane đã khô cứng lại thành một khối 'độc thân thánh thiện' thẳng tắp nhất, nguyên tắc nhất, và kiệm lời nhất từng tồn tại trên đời, và rằng, cho đến khi 'Kiêu hãnh và Định kiến' phơi bày viên ngọc quý giá nào đang ẩn giấu bên trong cái vỏ bọc không thể uốn cong ấy, thì cô ta trong mắt giới thượng lưu cũng chẳng được đoái hoài gì hơn một cái que cời than hay một tấm bình phong che lửa... Tình thế giờ đã khác hẳn," quý bà tốt bụng ấy tiếp tục; "cô ta vẫn là một cái que cời than - nhưng là một cái que cời than khiến ai nấy đều phải khiếp sợ... Một bộ óc sắc sảo, một người phác họa chân dung tính cách mà lại chẳng buồn hé môi thì quả là đáng sợ thật!" Tất nhiên, ở phía bên kia chiến tuyến, là những người họ hàng nhà Austen, một dòng tộc vốn chẳng mấy khi tự tâng bốc mình, nhưng dẫu vậy, họ nói rằng những người anh trai của bà "vô cùng yêu thương và vô cùng tự hào về bà. Họ gắn bó với bà bởi tài năng, đức hạnh, và những cung cách duyên dáng của bà, và mãi sau này, ai nấy đều thích thú khi tưởng tượng ra một nét nhang nhác nào đó nơi những cô cháu gái hay cô con gái của chính mình với người em gái Jane thân thương, người mà họ chẳng bao giờ mong có thể tìm thấy một phiên bản nào sánh bằng." Duyên dáng nhưng thẳng thắn, được yêu thương ở nhà nhưng bị người ngoài e sợ, chua ngoa sắc sảo nơi chót lưỡi nhưng lại mềm yếu ở trong tim - những sự đối lập ấy tuyệt nhiên không hề tương khắc, và khi lật giở những cuốn tiểu thuyết của bà, ta sẽ nhận ra chính chúng ta cũng đang vấp phải những sự phức tạp y hệt như thế ở người nữ văn sĩ này.
Trước hết, cái cô bé cứng nhắc mà Philadelphia thấy chẳng hề giống một đứa trẻ mười hai tuổi, kỳ quặc và điệu bộ ấy, sẽ sớm trở thành tác giả của một câu chuyện đáng kinh ngạc và chẳng trẻ con chút nào, Tình yêu và Tình bạn (Love and Freindship) [1], thứ mà dẫu nghe có vẻ khó tin, đã được chắp bút vào năm mười lăm tuổi. Rõ ràng nó được viết để mua vui cho phòng học; một trong những câu chuyện trong cùng cuốn sách được đề tặng bằng một vẻ trang nghiêm đầy giễu cợt cho người anh trai của bà; một câu chuyện khác được minh họa một cách gọn gàng bằng những bức chân dung màu nước do chính tay chị gái bà vẽ. Người ta có thể cảm nhận rằng, đây là những trò đùa mang tính nội bộ gia đình; những nhát kiếm trào phúng đâm trúng đích bởi tất cả những đứa trẻ nhà Austen đều đã cùng nhau chế nhạo những quý cô đài các vốn chỉ biết "thở dài và ngất lịm trên sô-pha."
Những người anh chị em hẳn đã cười phá lên khi Jane lớn tiếng đọc nhát đâm chí mạng cuối cùng của bà vào những thói hư tật xấu mà tất cả bọn họ đều căm ghét. "Tôi chết như một kẻ tuẫn đạo vì nỗi đau buồn trước sự ra đi của Augustus. Một cơn ngất lịm chí mạng đã tước đi sinh mạng của tôi. Hãy coi chừng những cơn Ngất lịm, Laura thân mến... Cứ phát điên bao nhiêu lần tùy thích, nhưng xin đừng ngất xỉu." Và bà cứ thế tuôn trào, nhanh như tốc độ viết và còn nhanh hơn cả tốc độ đánh vần của mình, để kể về những cuộc phiêu lưu khó tin của Laura và Sophia, của Philander và Gustavus, của người quý ông cứ cách ngày lại lái xe ngựa một chuyến giữa Edinburgh và Stirling, về vụ trộm món tài sản được cất trong ngăn kéo bàn, về những bà mẹ chết đói và những cậu con trai đóng vai Macbeth. Rõ ràng, câu chuyện hẳn đã khiến cả phòng học nổ tung trong những trận cười vang dội. Thế nhưng, chẳng có gì hiển nhiên hơn việc cô gái mười lăm tuổi này, khi ngồi trong góc riêng tư của phòng khách chung, không hề viết chỉ để câu tiếng cười từ các anh chị em, và cũng chẳng phải để tiêu thụ nội bộ trong gia đình. Bà đang viết cho tất cả mọi người, và chẳng cho riêng ai, cho thời đại của chúng ta, và cho chính thời đại của bà; nói cách khác, ngay từ độ tuổi thiếu thời ấy, Jane Austen đã viết. Người ta nghe thấy điều đó trong nhịp điệu, trong sự nắn nót và cả sự nghiêm nghị của những câu văn. "Cô ta chẳng có gì hơn là một người phụ nữ trẻ tuổi với tính khí tốt, lịch sự và hay giúp đỡ người khác; vì thế chúng tôi hầu như không thể ghét cô ta - cô ta chỉ là một đối tượng để khinh bỉ mà thôi." Một câu văn như thế được sinh ra là để tồn tại lâu hơn cả những kỳ nghỉ Giáng sinh. Đầy khí phách, thanh thoát, ngập tràn sự hóm hỉnh, mấp mé đường ranh giới của sự tự do tiến thẳng vào sự ngớ ngẩn thuần túy - Tình yêu và Tình bạn hội tụ tất cả những điều đó; nhưng cái nốt nhạc chẳng bao giờ chịu hòa lẫn vào phần còn lại, thứ vang lên một cách tách biệt và thấu suốt toàn bộ cuốn sách này là gì? Đó là âm thanh của tiếng cười. Cô gái mười lăm tuổi ấy đang cười nhạo, từ trong góc nhỏ của mình, vào thế giới này.
Những cô gái mười lăm tuổi thì lúc nào cũng cười. Họ cười khi ông Binney tự ý lấy muối thay vì đường. Họ gần như cười chết đi được khi bà lão Tomkins ngồi đè lên con mèo. Nhưng ngay khoảnh khắc sau đó họ lại có thể khóc. Họ không có một điểm tựa cố định nào để từ đó nhìn thấu rằng có một điều gì đó vĩnh viễn đáng nực cười trong bản tính con người, một nét phẩm chất nào đó ở đàn ông và phụ nữ vĩnh viễn khơi dậy sự trào phúng của chúng ta. Họ không biết rằng Quý bà Greville thích hắt hủi người khác, và cô nàng Maria tội nghiệp bị hắt hủi, là những đặc điểm trường tồn của mọi phòng khiêu vũ. Nhưng Jane Austen thì đã tường tận điều đó ngay từ thuở lọt lòng. Hẳn một trong những bà tiên thường đậu trên nôi đã đưa bà bay một vòng qua thế giới ngay khi bà vừa sinh ra. Khi được đặt lại vào nôi, bà không chỉ biết thế giới trông như thế nào, mà còn đã chọn xong vương quốc cho riêng mình. Bà đã đồng ý rằng nếu bà có thể trị vì lãnh thổ ấy, bà sẽ chẳng khao khát gì hơn nữa. Vì vậy, ở tuổi mười lăm, bà có rất ít ảo tưởng về người khác và chẳng có chút ảo tưởng nào về chính mình. Bất kể thứ gì bà viết ra đều được gọt giũa, uốn nắn và được đặt vào mối tương quan, không phải với khu nhà xứ, mà là với cả vũ trụ. Bà vô tư; bà tĩnh mịch đến mức không thể dò thấu. Khi nữ văn sĩ Jane Austen chép lại, trong bản phác thảo đáng chú ý nhất của cuốn sách, một chút đoạn hội thoại của Quý bà Greville, chẳng hề có lấy một dấu vết nào của sự tức giận trước sự hắt hủi mà cô con gái của vị mục sư, Jane Austen, từng phải gánh chịu. Ánh nhìn của bà đi thẳng đến đích, và chúng ta biết chính xác cái đích đó nằm ở đâu trên bản đồ của bản tính con người. Chúng ta biết bởi vì Jane Austen luôn giữ đúng lời cam kết của mình; bà chẳng bao giờ bước qua khỏi những lằn ranh của mình. Không bao giờ, ngay cả ở cái tuổi mười lăm đầy xáo động cảm xúc, bà lại quay ra tự trách mình trong sự xấu hổ, xóa nhòa một lời châm biếm trong một cơn co thắt của lòng trắc ẩn, hay làm mờ đi một đường nét trong một lớp sương mù của sự phấn khích cuồng nhiệt. Những cơn co thắt và những sự cuồng nhiệt, bà dường như đã nói, chỉ cây gậy của mình ra, kết thúc ở đó; và đường ranh giới là hoàn toàn rạch ròi. Nhưng bà không phủ nhận rằng những mặt trăng, những ngọn núi và những lâu đài vẫn tồn tại - ở phía bên kia. Bà thậm chí còn có một sự lãng mạn của riêng mình. Đó là dành cho Nữ hoàng xứ Scots. Bà thực sự vô cùng ngưỡng mộ Nữ hoàng. "Một trong những nhân vật hàng đầu của thế giới", bà đã gọi Nữ hoàng như thế, "một Nàng công chúa đầy ma lực mà người bạn duy nhất khi ấy là Công tước xứ Norfolk, và những người bạn duy nhất hiện tại là ông Whitaker, bà Lefroy, bà Knight và chính tôi." Với những ngôn từ ấy, niềm đam mê của bà được khoanh vùng gọn gàng, và khép lại bằng một tiếng cười. Thật nực cười khi nhớ lại những ngôn từ mà những cô gái trẻ nhà Brontë đã viết, không lâu sau đó, trong khu nhà xứ miền bắc của họ, về Công tước xứ Wellington.
Cô bé cứng nhắc ngày nào nay đã trưởng thành. Bà trở thành "con bướm săn chồng xinh đẹp nhất, ngớ ngẩn nhất, và điệu bộ nhất" mà bà Mitford từng nhớ, và, tình cờ thay, cũng là tác giả của một cuốn tiểu thuyết mang tên Kiêu hãnh và Định kiến (Pride and Prejudice), thứ được viết lén lút dưới sự yểm trợ của một cánh cửa cọt kẹt, và nằm bám bụi nhiều năm trời chưa được xuất bản. Một thời gian ngắn sau đó, người ta cho rằng, bà đã bắt đầu một câu chuyện khác, Nhà Watson (The Watsons), và vì một lý do nào đó không hài lòng với nó, bà đã bỏ ngang. Những tác phẩm hạng hai của một nhà văn vĩ đại rất đáng đọc bởi chúng mang lại lời phê bình chân xác nhất cho những kiệt tác của họ. Ở đây, những khó khăn của bà hiện lên rõ nét hơn, và phương thức bà dùng để vượt qua chúng lại ít được che đậy khéo léo hơn. Trước hết, sự cứng nhắc và trần trụi của những chương đầu tiên chứng tỏ rằng bà là một trong những nhà văn có thói quen bày biện các sự kiện của mình khá trần trụi ở phiên bản đầu tiên rồi sau đó mới quay lại, quay lại, và quay lại để đắp lên chúng da thịt và bầu không khí. Mọi chuyện sẽ được hoàn thiện như thế nào thì chúng ta không thể đoan chắc - bằng những sự lược bỏ, chèn ép hay những thủ pháp đầy nghệ thuật nào. Nhưng phép màu hẳn đã được hoàn tất; cái lịch sử tẻ nhạt của mười bốn năm chung sống trong gia đình hẳn đã được chuyển hóa thành một trong những khúc dạo đầu tinh tế và dường như không tốn sức lực nào khác của bà; và chúng ta hẳn sẽ chẳng bao giờ đoán được Jane Austen đã ép ngòi bút của mình phải vượt qua những trang viết nháp nhọc nhằn đến nhường nào. Ở đây, chúng ta nhận ra rằng rốt cuộc bà cũng chẳng phải là một nhà ảo thuật. Giống như những nhà văn khác, bà phải tự mình tạo ra cái bầu không khí nơi tài năng thiên bẩm kỳ lạ của riêng bà có thể đơm hoa kết trái. Ở đây bà còn lóng ngóng; ở đây bà cứ để chúng ta phải chờ đợi. Rồi thình lình bà đã làm được; giờ thì mọi việc có thể diễn ra theo cái cách mà bà muốn chúng diễn ra. Nhà Edwards chuẩn bị đến buổi khiêu vũ. Cỗ xe ngựa nhà Tomlinson đang chạy ngang qua; bà có thể kể cho chúng ta rằng Charles đang "được đưa găng tay và bị dặn là không được cởi ra"; Tom Musgrave rút lui vào một góc khuất với một thùng hàu và tỏ ra vô cùng ấm cúng. Tài năng của bà đã được giải phóng và bắt đầu vận hành. Ngay lập tức các giác quan của chúng ta trở nên nhạy bén; chúng ta bị chế ngự bởi sự mãnh liệt kỳ lạ mà chỉ mình bà mới có thể truyền đạt. Nhưng tất cả những thứ đó được cấu thành từ đâu? Từ một buổi khiêu vũ ở một thị trấn miền quê; vài ba cặp đôi gặp gỡ và nắm tay nhau trong một gian phòng khiêu vũ; một chút ăn uống; và về phần thảm họa, một cậu bé bị hắt hủi bởi một quý cô trẻ và được một quý cô khác đối xử tử tế. Chẳng có bi kịch cũng chẳng có chủ nghĩa anh hùng nào ở đây. Ấy vậy mà vì một lý do nào đó, phân cảnh nhỏ bé này lại vô cùng cảm động, vượt ra ngoài mọi tỷ lệ so với sự trang nghiêm bề mặt của nó. Chúng ta đã được dẫn dắt để thấy rằng nếu Emma đã cư xử như thế trong phòng khiêu vũ, thì cô ấy sẽ tỏ ra chu đáo đến mức nào, dịu dàng đến mức nào, và được truyền cảm hứng bởi thứ tình cảm chân thành đến mức nào trong những cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn của cuộc đời, những thứ mà, trong khi chúng ta đang dõi theo cô, chắc chắn sẽ hiển hiện trước mắt chúng ta. Jane Austen do đó là một bậc thầy của những cảm xúc sâu thẳm hơn nhiều so với những gì hiện lên trên bề mặt. Bà kích thích chúng ta phải tự bù đắp vào những gì không có ở đó. Những gì bà đưa ra, bề ngoài, chỉ là những chuyện vặt vãnh, nhưng lại được cấu thành từ một thứ gì đó giãn nở trong tâm trí độc giả và ban tặng một hình thức sống bền bỉ nhất cho những phân cảnh bề ngoài có vẻ tầm thường. Trọng tâm luôn được đặt vào tính cách. Chúng ta bị buộc phải tự hỏi, Emma sẽ cư xử thế nào khi Huân tước Osborne và Tom Musgrave ghé thăm vào đúng năm phút trước ba giờ, đúng lúc Mary đang bưng khay và hộp dao vào? Đó là một tình huống vô cùng gượng gạo. Những thanh niên ấy đã quen với sự tinh tế lớn hơn nhiều. Emma có thể sẽ tự chứng minh mình là một kẻ thiếu giáo dục, thô tục, một người vô danh tiểu tốt. Những khúc quanh và ngã rẽ của đoạn hội thoại luôn giữ chúng ta trên mũi kim của sự hồi hộp. Sự chú ý của chúng ta một nửa đặt ở khoảnh khắc hiện tại, một nửa đặt vào tương lai. Và khi, đến cuối cùng, Emma cư xử theo một cách thức đập tan mọi nghi ngờ và minh chứng cho những hy vọng cao nhất của chúng ta về cô ấy, chúng ta bị lay động như thể vừa được làm nhân chứng cho một vấn đề vô cùng trọng đại. Ở đây, quả thực, trong câu chuyện dang dở và về cơ bản là kém cỏi này, hội tụ tất cả những yếu tố làm nên sự vĩ đại của Jane Austen. Nó mang phẩm chất trường tồn của văn chương. Cứ thử tước bỏ đi sự sống động trên bề mặt, sự chân thực với cuộc sống, và thứ còn lại, để cung cấp một niềm hứng thú sâu sắc hơn, là một sự phân định tinh tế đến mức tuyệt hảo về các giá trị nhân sinh. Tước bỏ luôn cả điều này khỏi tâm trí và người ta vẫn có thể dừng lại với một sự thỏa mãn tột cùng trước cái nghệ thuật trừu tượng hơn, thứ mà, trong phân cảnh phòng khiêu vũ, đã làm biến đổi muôn vàn cảm xúc và chia tỷ lệ các phần một cách hoàn hảo đến mức ta hoàn toàn có thể thưởng thức nó, như cách ta thưởng thức thi ca, vì chính bản thân nó, chứ không phải như một mắt xích dẫn dắt câu chuyện đi theo hướng này hay hướng khác.
Nhưng những lời đồn thổi lại nói về Jane Austen rằng bà là người cứng nhắc, nguyên tắc và kiệm lời - "một cái que cời than khiến ai nấy đều phải khiếp sợ". Về điều này cũng có những dấu vết; bà có thể trở nên tàn nhẫn không kém ai; bà là một trong những nhà châm biếm kiên định nhất trong toàn bộ nền văn học. Những chương đầu tiên đầy góc cạnh của Nhà Watson chứng tỏ rằng tài năng của bà không phải là một tài năng tuôn trào không ngớt; bà không giống như Emily Brontë, chỉ cần mở tung cánh cửa là đã có thể khiến người ta cảm nhận được mình. Một cách khiêm nhường và vui vẻ, bà nhặt nhạnh từng cành cây, từng cọng rơm để xây nên chiếc tổ và sắp xếp chúng lại với nhau một cách gọn gàng. Bản thân những cành cây và cọng rơm ấy cũng hơi khô khan và bám chút bụi bặm. Nào là ngôi nhà lớn và ngôi nhà nhỏ; một buổi tiệc trà, một bữa tiệc tối, và thi thoảng là một buổi dã ngoại; cuộc sống bị rào giậu bởi những mối quan hệ giá trị và những khoản thu nhập tươm tất; bởi những con đường lầy lội bùn đất, những đôi chân ướt sũng, và một xu hướng rất hay mệt mỏi của các quý bà; một chút nguyên tắc đã chống đỡ cho nó, một chút hệ quả, và nền giáo dục thường được hưởng bởi các gia đình thuộc tầng lớp thượng trung lưu sống ở nông thôn. Thói xấu, sự mạo hiểm, những đam mê rực cháy đều bị bỏ lại bên ngoài. Nhưng trong tất thảy cái sự tẻ nhạt này, trong tất thảy cái sự nhỏ nhen này, bà chẳng hề né tránh điều gì, và chẳng có gì bị lấp liếm qua loa. Một cách nhẫn nại và chuẩn xác, bà kể cho chúng ta nghe họ đã "không dừng lại ở bất cứ đâu cho đến khi tới Newbury, nơi một bữa ăn thịnh soạn, kết hợp cả bữa trưa và bữa tối, đã kết thúc lại những niềm vui và sự mệt mỏi của ngày hôm đó" như thế nào. Bà cũng không dành cho những lề thói ước lệ một sự tôn kính chỉ chót lưỡi đầu môi; bà tin vào chúng bên cạnh việc chấp nhận chúng. Khi bà đang khắc họa một vị mục sư, như Edmund Bertram, hay đặc biệt là một thủy thủ, bà dường như bị ngăn cấm bởi sự thiêng liêng của chức vụ anh ta khỏi việc sử dụng một cách tự do công cụ sắc bén nhất của mình, cái tài năng hài hước, và do đó dễ bị sa đà vào những lời ca ngợi trang trọng hoặc những lời miêu tả thực tế khô khan. Nhưng đó chỉ là những ngoại lệ; đối với phần lớn tác phẩm, thái độ của bà gợi nhớ lại lời thốt lên của quý bà ẩn danh nọ - "Một bộ óc sắc sảo, một người phác họa chân dung tính cách mà lại chẳng buồn hé môi thì quả là đáng sợ thật!" Bà chẳng muốn cải cách cũng chẳng muốn tiêu diệt điều gì; bà giữ im lặng; và điều đó quả là đáng sợ thật. Lần lượt từng người một, bà nhào nặn nên những kẻ ngốc nghếch, những kẻ tự phụ, những kẻ thực dụng, những ngài Collins, những ngài Walter Elliott, những bà Bennet của riêng mình. Bà bao vây họ bằng ngọn roi của một cụm từ sắc lẹm, thứ khi quất quanh họ, đã cắt rời những cái bóng của họ mãi mãi. Nhưng họ vẫn cứ ở đó; chẳng có một lời bào chữa nào được tìm thấy cho họ và cũng chẳng có sự thương xót nào được thể hiện với họ. Chẳng còn lại chút gì của Julia và Maria Bertram khi bà đã xử lý xong họ; Phu nhân Bertram vĩnh viễn bị bỏ lại "đang ngồi và gọi con chó Pug và cố gắng giữ nó tránh xa những luống hoa". Một công lý thần thánh được ban phát; Bác sĩ Grant, người bắt đầu bằng việc thích món ngỗng của mình phải thật mềm, kết thúc bằng việc rước lấy "chứng ngập máu và cái chết, bởi ba bữa tiệc nhậm chức thịnh soạn trong vòng một tuần". Đôi khi, dường như những tạo vật của bà được sinh ra chỉ để mang lại cho Jane Austen cái niềm vui sướng tột độ khi được chém bay đầu chúng. Bà thỏa mãn; bà hài lòng; bà sẽ không thay đổi dù chỉ một sợi tóc trên đầu bất kỳ ai, hay xê dịch một viên gạch hoặc một ngọn cỏ nào trong một thế giới vốn đã cung cấp cho bà một niềm khoái cảm tinh tế đến nhường ấy.
Mà thực tình, chúng ta cũng chẳng muốn thế. Bởi vì ngay cả khi những nỗi dằn vặt của lòng phù phiếm bị xúc phạm, hay sức nóng của cơn thịnh nộ đạo đức, thúc giục chúng ta phải cải tạo cho kỳ được một thế giới đầy rẫy sự thù hằn, nhỏ nhen và ngu ngốc như vậy, thì nhiệm vụ đó cũng nằm ngoài khả năng của chúng ta. Con người là như thế - cô gái mười lăm tuổi đã biết điều đó; người phụ nữ trưởng thành đã chứng minh điều đó. Ngay tại khoảnh khắc này, một Phu nhân Bertram nào đó đang cố gắng giữ con Pug tránh xa những luống hoa; bà ấy cử Chapman đến giúp cô Fanny muộn một chút. Sự phân định hoàn hảo đến mức, sự châm biếm đích đáng đến mức, mặc dù nó vô cùng kiên định, nó gần như tuột khỏi sự chú ý của chúng ta. Không một chút nhỏ nhen nào, không một dấu hiệu nào của sự thù hằn, đánh thức chúng ta khỏi sự chiêm nghiệm của mình. Niềm vui sướng đan xen một cách kỳ lạ với sự thích thú của chúng ta. Cái đẹp đã soi sáng những kẻ ngốc nghếch này.
Cái phẩm chất khó nắm bắt ấy, thực ra, thường được cấu thành từ những phần rất đỗi khác biệt, thứ đòi hỏi một tài năng kỳ lạ mới có thể kết hợp lại với nhau. Sự hóm hỉnh của Jane Austen luôn song hành với gu thẩm mỹ hoàn hảo của bà. Kẻ ngốc của bà đích thị là một kẻ ngốc, kẻ trịch thượng của bà đích thị là một kẻ trịch thượng, bởi vì hắn ta đã đi chệch khỏi cái khuôn mẫu của sự minh mẫn và ý thức mà bà có trong đầu, và bà truyền đạt điều đó đến chúng ta một cách không thể nhầm lẫn ngay cả khi bà đang khiến chúng ta bật cười. Chưa từng có một tiểu thuyết gia nào tận dụng tối đa một ý thức hoàn hảo về các giá trị nhân sinh đến như vậy. Chính là dựa trên cái nền của một trái tim không bao giờ sai lệch, một gu thẩm mỹ không bao giờ thất bại, một luân lý gần như nghiêm khắc, mà bà đã phơi bày những sự chệch hướng khỏi lòng tử tế, sự chân thật, và tính chân thành, những thứ vốn thuộc hàng thú vị nhất trong văn học Anh. Bà khắc họa một Mary Crawford trong sự pha trộn giữa tốt và xấu hoàn toàn bằng phương tiện này. Bà để cô ta cứ lải nhải chỉ trích tầng lớp giáo sĩ, hay lớn tiếng bênh vực cho tước vị nam tước và mức thu nhập mười ngàn bảng một năm, với tất cả sự thoải mái và khí thế có thể; nhưng thỉnh thoảng bà lại gióng lên một nốt nhạc của riêng mình, rất khẽ khàng, nhưng với một âm điệu hoàn hảo, và ngay lập tức mọi lời tán gẫu của Mary Crawford, dẫu vẫn tiếp tục mang lại sự thích thú, lại trở nên vô hồn nhạt nhẽo. Từ đó mới làm nên chiều sâu, vẻ đẹp, sự phức điệu trong những phân cảnh của bà. Từ những sự đối lập như vậy nảy sinh một vẻ đẹp, thậm chí là một sự trang nghiêm, thứ không chỉ đáng kinh ngạc như sự hóm hỉnh của bà, mà còn là một phần không thể tách rời khỏi nó. Trong Nhà Watson, bà cho chúng ta nếm thử chút quyền năng này; bà khiến chúng ta phải tự hỏi tại sao một hành động tử tế bình thường, như cách bà miêu tả, lại trở nên đầy ắp ý nghĩa đến vậy. Trong các kiệt tác của bà, món quà ấy đã được mài giũa đến mức hoàn hảo. Nào có gì khác thường đâu; lúc đó là giữa trưa ở Northamptonshire; một chàng thanh niên tẻ nhạt đang nói chuyện với một quý cô khá yếu đuối trên cầu thang khi họ đi lên lầu để thay đồ ăn tối, với những người hầu gái đi ngang qua. Nhưng, từ sự vụn vặt, từ sự tầm thường, những lời nói của họ bỗng chốc trở nên đầy ắp ý nghĩa, và khoảnh khắc đó trở thành một trong những khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong cuộc đời của cả hai. Nó tự làm đầy chính nó; nó tỏa sáng; nó rực rỡ; nó lơ lửng trước mắt chúng ta, sâu thẳm, run rẩy, tĩnh lặng trong một giây lát; tiếp đó, người hầu gái đi ngang qua, và giọt nước này, nơi mọi niềm hạnh phúc của cuộc đời đã tụ lại, lại nhẹ nhàng chìm xuống để trở thành một phần của thủy triều lên xuống trong sự tồn tại bình thường.
Vậy thì còn gì tự nhiên hơn, với cái nhìn thấu suốt vào sự sâu thẳm của họ, khi Jane Austen đã chọn viết về những điều vụn vặt trong cuộc sống thường nhật, về những buổi tiệc tùng, những buổi dã ngoại, và những điệu nhảy đồng quê? Không một "gợi ý thay đổi phong cách viết" nào từ Hoàng tử Nhiếp chính hay ông Clarke có thể cám dỗ được bà; chẳng có sự lãng mạn, chẳng có cuộc phiêu lưu, chẳng có chính trị hay những mưu đồ nào có thể sánh ngang với cuộc sống trên bậc cầu thang của một ngôi nhà ở nông thôn theo cách bà nhìn nhận nó. Quả thực, Hoàng tử Nhiếp chính và thủ thư của ngài đã lao đầu vào một trở ngại vô cùng đáng gờm; họ đang cố gắng can thiệp vào một lương tâm không thể mua chuộc, nhằm phá vỡ một sự thận trọng không thể sai lầm. Đứa trẻ đã uốn nắn những câu văn của mình một cách tinh tế đến vậy vào năm mười lăm tuổi chưa bao giờ ngừng uốn nắn chúng, và chẳng bao giờ viết cho Hoàng tử Nhiếp chính hay Thủ thư của ngài, mà là cho cả thế giới rộng lớn này. Bà biết chính xác sức mạnh của mình là gì, và thứ chất liệu nào phù hợp với chúng để được xử lý theo cách mà một nhà văn có tiêu chuẩn cao về sự hoàn mỹ nên làm. Có những ấn tượng nằm ngoài lãnh địa của bà; những cảm xúc mà dẫu có kéo căng hay dùng thủ pháp nào cũng không thể được bao bọc và che đậy một cách xứng đáng bằng nguồn lực của chính bà. Ví dụ, bà không thể bắt một cô gái nói chuyện một cách đầy nhiệt huyết về những lá cờ và những nhà nguyện. Bà không thể ném mình trọn vẹn vào một khoảnh khắc lãng mạn. Bà có đủ mọi phương sách để lảng tránh những cảnh đam mê mãnh liệt. Thiên nhiên và những vẻ đẹp của nó được bà tiếp cận theo một cách gián tiếp của riêng mình. Bà miêu tả một đêm đẹp trời mà không một lần đả động đến mặt trăng. Dẫu vậy, khi chúng ta đọc những cụm từ trang trọng ít ỏi về "sự rực rỡ của một đêm không mây và sự tương phản của bóng tối sâu thẳm từ những cánh rừng", đêm đen ấy ngay lập tức trở nên "uy nghiêm, êm dịu, và đáng yêu" đúng như những gì bà, một cách rất đỗi giản đơn, đã kể cho chúng ta nghe.
Sự cân bằng trong những năng lực thiên bẩm của bà quả thực hoàn hảo một cách dị thường. Trong số những cuốn tiểu thuyết đã hoàn thiện của bà, chẳng có lấy một thất bại nào, và trong vô số những chương sách của bà, hiếm có chương nào sụt giảm rõ rệt xuống dưới đẳng cấp của những chương khác. Nhưng, xét cho cùng, bà đã ra đi ở tuổi bốn mươi hai. Bà ra đi ở đỉnh cao của sự nghiệp. Bà vẫn đang phải hứng chịu những sự thay đổi thường khiến cho giai đoạn cuối cùng trong sự nghiệp của một nhà văn trở nên thú vị hơn tất thảy. Tràn đầy sức sống, không thể kìm nén, được ban tặng một sức sáng tạo với sinh khí mãnh liệt, không có chút nghi ngờ nào rằng bà hẳn đã viết nhiều hơn nữa, nếu bà còn sống, và thật hấp dẫn khi thử suy ngẫm xem liệu bà có viết theo một cách khác đi hay không. Những đường ranh giới đã được vạch ra; những mặt trăng, những ngọn núi, và những lâu đài nằm ở phía bên kia. Nhưng chẳng lẽ đôi khi bà không bị cám dỗ bước qua ranh giới ấy một phút giây nào sao? Chẳng lẽ bà đã không bắt đầu, theo phong cách tươi vui và rực rỡ của riêng mình, dự tính về một chuyến viễn du khám phá nho nhỏ nào đó sao?
Hãy thử lấy Thuyết phục (Persuasion), cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh cuối cùng của bà, và mượn ánh sáng của nó để soi rọi vào những cuốn sách mà lẽ ra bà có thể viết nếu còn sống. Có một vẻ đẹp kỳ lạ và một sự tẻ nhạt kỳ lạ trong Thuyết phục. Sự tẻ nhạt đó là thứ thường xuyên đánh dấu giai đoạn chuyển giao giữa hai thời kỳ khác biệt. Nhà văn đã có chút chán nản. Bà đã quá quen thuộc với những lối đi trong thế giới của mình; bà không còn ghi nhận chúng một cách tươi mới nữa. Có một sự gay gắt trong những tình huống hài hước của bà, điều đó cho thấy bà gần như đã không còn thấy buồn cười trước những thói phù phiếm của một Ngài Walter hay thói trưởng giả học làm sang của một cô Elliott nữa. Sự châm biếm trở nên cay nghiệt, và yếu tố hài hước thì thô ráp. Bà không còn nhận thức một cách tươi mới về những thú vui của cuộc sống thường nhật nữa. Tâm trí bà không hoàn toàn đặt vào đối tượng của mình. Nhưng, trong khi chúng ta cảm thấy rằng Jane Austen đã từng làm điều này trước đây, và làm tốt hơn, chúng ta cũng cảm thấy rằng bà đang cố gắng làm một điều gì đó mà bà chưa từng thử sức. Có một yếu tố mới trong Thuyết phục, có lẽ, đó là phẩm chất đã khiến Tiến sĩ Whewell sôi sục và khăng khăng rằng đây là "tác phẩm đẹp nhất của bà". Bà đang bắt đầu khám phá ra rằng thế giới này rộng lớn hơn, bí ẩn hơn, và lãng mạn hơn những gì bà từng tưởng tượng. Chúng ta cảm thấy điều đó dường như đúng với chính bản thân bà khi bà nói về Anne: "Cô đã bị ép buộc phải thận trọng trong tuổi thanh xuân của mình, cô học được sự lãng mạn khi đã lớn tuổi - phần tiếp theo tự nhiên của một sự khởi đầu trái tự nhiên". Bà thường xuyên dừng lại ở vẻ đẹp và sự u sầu của thiên nhiên, ở mùa thu nơi bà từng có thói quen dừng lại ở mùa xuân. Bà nói về "sự ảnh hưởng vừa ngọt ngào vừa buồn bã của những tháng mùa thu ở nông thôn". Bà chú ý tới "những chiếc lá úa vàng và những hàng rào héo hon". "Người ta không bớt yêu một nơi nào đó chỉ vì người ta đã từng đau khổ ở đó", bà quan sát. Nhưng chúng ta phát hiện ra sự thay đổi không chỉ ở một sự nhạy cảm mới đối với thiên nhiên. Thái độ của bà đối với chính cuộc sống cũng đã thay đổi. Bà đang nhìn nó, trong phần lớn cuốn sách, qua lăng kính của một người phụ nữ, bản thân cũng không hạnh phúc, mang một sự đồng cảm đặc biệt đối với niềm hạnh phúc và nỗi bất hạnh của người khác, thứ mà, cho đến tận phút cuối cùng, cô bị buộc phải bình luận trong im lặng. Do đó, sự quan sát ít thiên về các sự kiện mà thiên về cảm xúc hơn mức thông thường. Có một cảm xúc được bày tỏ trong phân cảnh ở buổi hòa nhạc và trong cuộc trò chuyện nổi tiếng về sự thủy chung của người phụ nữ, điều đó chứng minh không chỉ sự thật tiểu sử rằng Jane Austen đã từng yêu, mà còn là sự thật thẩm mỹ rằng bà không còn sợ hãi khi nói ra điều đó nữa. Những trải nghiệm, khi chúng mang một tính chất nghiêm túc, đã phải chìm xuống rất sâu, và được khử trùng triệt để bởi dòng chảy của thời gian, trước khi bà cho phép mình đưa chúng vào tiểu thuyết. Nhưng giờ đây, vào năm 1817, bà đã sẵn sàng. Về mặt ngoại tại, trong hoàn cảnh của bà, một sự thay đổi cũng đang cận kề. Danh tiếng của bà đã phát triển rất đỗi chậm chạp. "Tôi nghi ngờ," ông Austen Leigh viết, "liệu có thể kể tên bất kỳ một tác giả danh tiếng nào khác mà sự mờ nhạt về đời tư lại tuyệt đối đến vậy không." Giá như bà sống thêm vài năm nữa thôi, tất cả những điều đó hẳn đã thay đổi. Bà hẳn đã ở lại London, ăn trưa và ăn tối ngoài tiệm, gặp gỡ những người nổi tiếng, kết giao với những người bạn mới, đọc sách, đi du lịch, và mang về căn nhà nhỏ yên tĩnh ở nông thôn một kho tàng những sự quan sát để nhẩn nha thưởng thức lúc rảnh rỗi.
Và tất cả những điều này hẳn sẽ có tác động như thế nào lên sáu cuốn tiểu thuyết mà Jane Austen đã không kịp viết? Bà hẳn sẽ không viết về tội ác, về đam mê mãnh liệt, hay về những cuộc phiêu lưu. Bà hẳn sẽ không bị dồn ép bởi sự nhũng nhiễu của các nhà xuất bản hay sự xu nịnh của bạn bè để rồi sa vào sự cẩu thả hay thiếu chân thành. Nhưng bà hẳn sẽ biết nhiều hơn. Cảm giác an toàn của bà hẳn sẽ bị lung lay. Chất hài hước của bà hẳn sẽ bị ảnh hưởng. Bà hẳn sẽ ít dựa dẫm hơn (điều này đã có thể nhận thấy trong Thuyết phục) vào các đoạn hội thoại và dựa nhiều hơn vào sự suy ngẫm để mang lại cho chúng ta sự thấu hiểu về các nhân vật của bà. Những đoạn độc thoại ngắn ngủi tuyệt diệu ấy, thứ tóm tắt lại, chỉ trong vài phút tán gẫu, tất cả những gì chúng ta cần để thấu hiểu một Đô đốc Croft hay một bà Musgrove, cái phương pháp tốc ký, được ăn cả ngã về không ấy chứa đựng những chương phân tích và tâm lý học, hẳn sẽ trở nên quá đỗi thô sơ để có thể chứa đựng tất cả những gì bà giờ đây đã nhận thức được về tính phức điệu của bản tính con người. Bà hẳn sẽ sáng tạo ra một phương pháp, rõ ràng và điềm tĩnh như mọi khi, nhưng sâu sắc hơn và đầy tính gợi mở hơn, để truyền đạt không chỉ những gì người ta nói, mà cả những gì họ để lại không nói; không chỉ họ là ai, mà cuộc sống là gì. Bà hẳn sẽ lùi ra xa hơn khỏi các nhân vật của mình, và nhìn họ nhiều hơn như một tập thể, ít hơn như những cá nhân riêng lẻ. Sự châm biếm của bà, trong khi diễn ra ít liên tục hơn, hẳn sẽ trở nên nghiêm ngặt và cay nghiệt hơn. Bà hẳn sẽ là người tiền nhiệm của Henry James và của Proust - nhưng thôi, thế là đủ rồi. Những sự suy đoán này đều là vô vọng: người nghệ sĩ hoàn mỹ nhất trong số những người phụ nữ, nhà văn mà những cuốn sách của bà là bất tử, đã ra đi "đúng vào lúc bà đang bắt đầu cảm thấy tự tin vào sự thành công của chính mình".
HƯƠNG GIANG dịch
Chú thích:
[1] Love and Freindship là cách viết sai chính tả có chủ ý của Jane Austen (đáng lẽ phải là Friendship). Tác phẩm này là một bản thảo thời trẻ của bà.
BẢN TIẾNG ANH
It is probable that if Miss Cassandra Austen had had her way we should have had nothing of Jane Austen's except her novels. To her elder sister alone did she write freely; to her alone she confided her hopes and, if rumour is true, the one great disappointment of her life; but when Miss Cassandra Austen grew old, and the growth of her sister's fame made her suspect that a time might come when strangers would pry and scholars speculate, she burnt, at great cost to herself, every letter that could gratify their curiosity, and spared only what she judged too trivial to be of interest.
Hence our knowledge of Jane Austen is derived from a little gossip, a few letters, and her books. As for the gossip, gossip which has survived its day is never despicable; with a little rearrangement it suits our purpose admirably. For example, Jane "is not at all pretty and very prim, unlike a girl of twelve . . . Jane is whimsical and affected," says little Philadelphia Austen of her cousin. Then we have Mrs. Mitford, who knew the Austens as girls and thought Jane "the prettiest, silliest, most affected husband-hunting butterfly she ever remembers ". Next, there is Miss Mitford's anonymous friend "who visits her now [and] says that she has stiffened into the most perpendicular, precise, taciturn piece of 'single blessedness' that ever existed, and that, until Pride and Prejudice showed what a precious gem was hidden in that unbending case, she was no more regarded in society than a poker or firescreen. . . . The case is very different now", the good lady goes on; "she is still a poker — but a poker of whom everybody is afraid. . . . A wit, a delineator of character, who does not talk is terrific indeed!" On the other side, of course, there are the Austens, a race little given to panegyric of themselves, but nevertheless, they say, her brothers "were very fond and very proud of her. They were attached to her by her talents, her virtues, and her engaging manners, and each loved afterwards to fancy a resemblance in some niece or daughter of his own to the dear sister Jane, whose perfect equal they yet never expected to see." Charming but perpendicular, loved at home but feared by strangers, biting of tongue but tender of heart — these contrasts are by no means incompatible, and when we turn to the novels we shall find ourselves stumbling there too over the same complexities in the writer.
To begin with, that prim little girl whom Philadelphia found so unlike a child of twelve, whimsical and affected, was soon to be the authoress of an astonishing and unchildish story, Love and Freindship, which, incredible though it appears, was written at the age of fifteen. It was written, apparently, to amuse the schoolroom; one of the stories in the same book is dedicated with mock solemnity to her brother; another is neatly illustrated with water-colour heads by her sister. These are jokes which, one feels, were family property; thrusts of satire, which went home because all little Austens made mock in common of fine ladies who "sighed and fainted on the sofa".
Brothers and sisters must have laughed when Jane read out loud her last hit at the vices which they all abhorred. "I die a martyr to my grief for the loss of Augustus. One fatal swoon has cost me my life. Beware of Swoons, Dear Laura. . . . Run mad as often as you chuse, but do not faint. . . ." And on she rushed, as fast as she could write and quicker than she could spell, to tell the incredible adventures of Laura and Sophia, of Philander and Gustavus, of the gentleman who drove a coach between Edinburgh and Stirling every other day, of the theft of the fortune that was kept in the table drawer, of the starving mothers and the sons who acted Macbeth. Undoubtedly, the story must have roused the schoolroom to uproarious laughter. And yet, nothing is more obvious than that this girl of fifteen, sitting in her private corner of the common parlour, was writing not to draw a laugh from brother and sisters, and not for home consumption. She was writing for everybody, for nobody, for our age, for her own; in other words, even at that early age Jane Austen was writing. One hears it in the rhythm and shapeliness and severity of the sentences. "She was nothing more than a mere good-tempered, civil, and obliging young woman; as such we could scarcely dislike her — she was only an object of contempt." Such a sentence is meant to outlast the Christmas holidays. Spirited, easy, full of fun, verging with freedom upon sheer nonsense, — Love and Freindship is all that; but what is this note which never merges in the rest, which sounds distinctly and penetratingly all through the volume? It is the sound of laughter. The girl of fifteen is laughing, in her corner, at the world.
Girls of fifteen are always laughing. They laugh when Mr. Binney helps himself to salt instead of sugar. They almost die of laughing when old Mrs. Tomkins sits down upon the cat. But they are crying the moment after. They have no fixed abode from which they see that there is something eternally laughable in human nature, some quality in men and women that for ever excites our satire. They do not know that Lady Greville who snubs, and poor Maria who is snubbed, are permanent features of every ballroom. But Jane Austen knew it from her birth upwards. One of those fairies who perch upon cradles must have taken her a flight through the world directly she was born. When she was laid in the cradle again she knew not only what the world looked like, but had already chosen her kingdom. She had agreed that if she might rule over that territory, she would covet no other. Thus at fifteen she had few illusions about other people and none about herself. Whatever she writes is finished and turned and set in its relation, not to the parsonage, but to the universe. She is impersonal; she is inscrutable. When the writer, Jane Austen, wrote down in the most remarkable sketch in the book a little of Lady Greville's conversation, there is no trace of anger at the snub which the clergyman's daughter, Jane Austen, once received. Her gaze passes straight to the mark, and we know precisely where, upon the map of human nature, that mark is. We know because Jane Austen kept to her compact; she never trespassed beyond her boundaries. Never, even at the emotional age of fifteen, did she round upon herself in shame, obliterate a sarcasm in a spasm of compassion, or blur an outline in a mist of rhapsody. Spasms and rhapsodies, she seems to have said, pointing with her stick, end there; and the boundary line is perfectly distinct. But she does not deny that moons and mountains and castles exist — on the other side. She has even one romance of her own. It is for the Queen of Scots. She really admired her very much. "One of the first characters in the world", she called her, "a bewitching Princess whose only friend was then the Duke of Norfolk, and whose only ones now Mr. Whitaker, Mrs. Lefroy, Mrs. Knight and myself." With these words her passion is neatly circumscribed, and rounded with a laugh. It is amusing to remember in what terms the young Brontë's wrote, not very much later, in their northern parsonage, about the Duke of Wellington.
The prim little girl grew up. She became "the prettiest, silliest, most affected husband-hunting butterfly" Mrs. Mitford ever remembered, and, incidentally, the authoress of a novel called Pride and Prejudice, which, written stealthily under cover of a creaking door, lay for many years unpublished. A little later, it is thought, she began another story, The Watsons, and being for some reason dissatisfied with it, left it unfinished. The second-rate works of a great writer are worth reading because they offer the best criticism of his masterpieces. Here her difficulties are more apparent, and the method she took to overcome them less artfully concealed. To begin with, the stiffness and the bareness of the first chapters prove that she was one of those writers who lay their facts out rather baldly in the first version and then go back and back and back and cover them with flesh and atmosphere. How it would have been done we cannot say — by what suppressions and insertions and artful devices. But the miracle would have been accomplished; the dull history of fourteen years of family life would have been converted into another of those exquisite and apparently effortless introductions; and we should never have guessed what pages of preliminary drudgery Jane Austen forced her pen to go through. Here we perceive that she was no conjuror after all. Like other writers, she had to create the atmosphere in which her own peculiar genius could bear fruit. Here she fumbles; here she keeps us waiting. Suddenly she has done it; now things can happen as she likes things to happen. The Edwardses are going to the ball. The Tomlinsons' carriage is passing; she can tell us that Charles is "being provided with his gloves and told to keep them on"; Tom Musgrave retreats to a remote corner with a barrel of oysters and is famously snug. Her genius is freed and active. At once our senses quicken; we are possessed with the peculiar intensity which she alone can impart. But of what is it all composed? Of a ball in a country town; a few couples meeting and taking hands in an assembly room; a little eating and drinking; and for catastrophe, a boy being snubbed by one young lady and kindly treated by another. There is no tragedy and no heroism. Yet for some reason the little scene is moving out of all proportion to its surface solemnity. We have been made to see that if Emma acted so in the ball-room, how considerate, how tender, inspired by what sincerity of feeling she would have shown herself in those graver crises of life which, as we watch her, come inevitably before our eyes. Jane Austen is thus a mistress of much deeper emotion than appears upon the surface. She stimulates us to supply what is not there. What she offers is, apparently, a trifle, yet is composed of something that expands in the reader's mind and endows with the most enduring form of life scenes which are outwardly trivial. Always the stress is laid upon character. How, we are made to wonder, will Emma behave when Lord Osborne and Tom Musgrave make their call at five minutes before three, just as Mary is bringing in the tray and the knife-case? It is an extremely awkward situation. The young men are accustomed to much greater refinement. Emma may prove herself ill-bred, vulgar, a nonentity. The turns and twists of the dialogue keep us on the tenterhooks of suspense. Our attention is half upon the present moment, half upon the future. And when, in the end, Emma behaves in such a way as to vindicate our highest hopes of her, we are moved as if we had been made witnesses of a matter of the highest importance. Here, indeed, in this unfinished and in the main inferior story, are all the elements of Jane Austen's greatness. It has the permanent quality of literature. Think away the surface animation, the likeness to life, and there remains, to provide a deeper pleasure, an exquisite discrimination of human values. Dismiss this too from the mind and one can dwell with extreme satisfaction upon the more abstract art which, in the ball-room scene, so varies the emotions and proportions the parts that it is possible to enjoy it, as one enjoys poetry, for itself, and not as a link which carries the story this way and that.
But the gossip says of Jane Austen that she was perpendicular, precise, and taciturn — "a poker of whom everybody is afraid". Of this too there are traces; she could be merciless enough; she is one of the most consistent satirists in the whole of literature. Those first angular chapters of The Watsons prove that hers was not a prolific genius; she had not, like Emily Brontë, merely to open the door to make herself felt. Humbly and gaily she collected the twigs and straws out of which the nest was to be made and placed them neatly together. The twigs and straws were a little dry and a little dusty in themselves. There was the big house and the little house; a tea party, a dinner party, and an occasional picnic; life was hedged in by valuable connections and adequate incomes; by muddy roads, wet feet, and a tendency on the part of the ladies to get tired; a little principle supported it, a little consequence, and the education commonly enjoyed by upper middle-class families living in the country. Vice, adventure, passion were left outside. But of all this prosiness, of all this littleness, she evades nothing, and nothing is slurred over. Patiently and precisely she tells us how they "made no stop anywhere till they reached Newbury, where a comfortable meal, uniting dinner and supper, wound up the enjoyments and fatigues of the day". Nor does she pay to conventions merely the tribute of lip homage; she believes in them besides accepting them. When she is describing a clergyman, like Edmund Bertram, or a sailor, in particular, she appears debarred by the sanctity of his office from the free use of her chief tool, the comic genius, and is apt therefore to lapse into decorous panegyric or matter-of-fact description. But these are exceptions; for the most part her attitude recalls the anonymous lady's ejaculation — "A wit, a delineator of character, who does not talk is terrific indeed!" She wishes neither to reform nor to annihilate; she is silent; and that is terrific indeed. One after another she creates her fools, her prigs, her worldlings, her Mr. Collinses, her Sir Walter Elliotts, her Mrs. Bennets. She encircles them with the lash of a whip-like phrase which, as it runs round them, cuts out their silhouettes for ever. But there they remain; no excuse is found for them and no mercy shown them. Nothing remains of Julia and Maria Bertram when she has done with them; Lady Bertram is left "sitting and calling to Pug and trying to keep him from the flower-beds" eternally. A pine justice is meted out; Dr. Grant, who begins by liking his goose tender, ends by bringing on "apoplexy and death, by three great institutionary dinners in one week". Sometimes it seems as if her creatures were born merely to give Jane Austen the supreme delight of slicing their heads off. She is satisfied; she is content; she would not alter a hair on anybody's head, or move one brick or one blade of grass in a world which provides her with such exquisite delight.
Nor, indeed, would we. For even if the pangs of outraged vanity, or the heat of moral wrath, urged us to improve away a world so full of spite, pettiness, and folly, the task is beyond our powers. People are like that — the girl of fifteen knew it; the mature woman proves it. At this very moment some Lady Bertram is trying to keep Pug from the flower beds; she sends Chapman to help Miss Fanny a little late. The discrimination is so perfect, the satire so just, that, consistent though it is, it almost escapes our notice. No touch of pettiness, no hint of spite, rouse us from our contemplation. Delight strangely mingles with our amusement. Beauty illumines these fools.
That elusive quality is, indeed, often made up of very different parts, which it needs a peculiar genius to bring together. The wit of Jane Austen has for partner the perfection of her taste. Her fool is a fool, her snob is a snob, because he departs from the model of sanity and sense which she has in mind, and conveys to us unmistakably even while she makes us laugh. Never did any novelist make more use of an impeccable sense of human values. It is against the disc of an unerring heart, an unfailing good taste, an almost stern morality, that she shows up those deviations from kindness, truth, and sincerity which are among the most delightful things in English literature. She depicts a Mary Crawford in her mixture of good and bad entirely by this means. She lets her rattle on against the clergy, or in favour of a baronetage and ten thousand a year, with all the ease and spirit possible; but now and again she strikes one note of her own, very quietly, but in perfect tune, and at once all Mary Crawford's chatter, though it continues to amuse, rings flat. Hence the depth, the beauty, the complexity of her scenes. From such contrasts there comes a beauty, a solemnity even, which are not only as remarkable as her wit, but an inseparable part of it. In The Watsons she gives us a foretaste of this power; she makes us wonder why an ordinary act of kindness, as she describes it, becomes so full of meaning. In her masterpieces, the same gift is brought to perfection. Here is nothing out of the way; it is midday in Northamptonshire; a dull young man is talking to rather a weakly young woman on the stairs as they go up to dress for dinner, with housemaids passing. But, from triviality, from commonplace, their words become suddenly full of meaning, and the moment for both one of the most memorable in their lives. It fills itself; it shines; it glows; it hangs before us, deep, trembling, serene for a second; next, the housemaid passes, and this drop, in which all the happiness of life has collected, gently subsides again to become part of the ebb and flow of ordinary existence.
What more natural, then, with this insight into their profundity, than that Jane Austen should have chosen to write of the trivialities of day-to-day existence, of parties, picnics, and country dances? No "suggestions to alter her style of writing" from the Prince Regent or Mr. Clarke could tempt her; no romance, no adventure, no politics or intrigue could hold a candle to life on a country-house staircase as she saw it. Indeed, the Prince Regent and his librarian had run their heads against a very formidable obstacle; they were trying to tamper with an incorruptible conscience, to disturb an infallible discretion. The child who formed her sentences so finely when she was fifteen never ceased to form them, and never wrote for the Prince Regent or his Librarian, but for the world at large. She knew exactly what her powers were, and what material they were fitted to deal with as material should be dealt with by a writer whose standard of finality was high. There were impressions that lay outside her province; emotions that by no stretch or artifice could be properly coated and covered by her own resources. For example, she could not make a girl talk enthusiastically of banners and chapels. She could not throw herself whole-heartedly into a romantic moment. She had all sorts of devices for evading scenes of passion. Nature and its beauties she approached in a sidelong way of her own. She describes a beautiful night without once mentioning the moon. Nevertheless, as we read the few formal phrases about "the brilliancy of an unclouded night and the contrast of the deep shade of the woods", the night is at once as "solemn, and soothing, and lovely" as she tells us, quite simply, that it was.
The balance of her gifts was singularly perfect. Among her finished novels there are no failures, and among her many chapters few that sink markedly below the level of the others. But, after all, she died at the age of forty-two. She died at the height of her powers. She was still subject to those changes which often make the final period of a writer's career the most interesting of all. Vivacious, irrepressible, gifted with an invention of great vitality, there can be no doubt that she would have written more, had she lived, and it is tempting to consider whether she would not have written differently. The boundaries were marked; moons, mountains, and castles lay on the other side. But was she not sometimes tempted to trespass for a minute? Was she not beginning, in her own gay and brilliant manner, to contemplate a little voyage of discovery?
Let us take Persuasion, the last completed novel, and look by its light at the books she might have written had she lived. There is a peculiar beauty and a peculiar dullness in Persuasion. The dullness is that which so often marks the transition stage between two different periods. The writer is a little bored. She has grown too familiar with the ways of her world; she no longer notes them freshly. There is an asperity in her comedy which suggests that she has almost ceased to be amused by the vanities of a Sir Walter or the snobbery of a Miss Elliott. The satire is harsh, and the comedy crude. She is no longer so freshly aware of the amusements of daily life. Her mind is not altogether on her object. But, while we feel that Jane Austen has done this before, and done it better, we also feel that she is trying to do something which she has never yet attempted. There is a new element in Persuasion, the quality, perhaps, that made Dr. Whewell fire up and insist that it was "the most beautiful of her works". She is beginning to discover that the world is larger, more mysterious, and more romantic than she had supposed. We feel it to be true of herself when she says of Anne: "She had been forced into prudence in her youth, she learned romance as she grew older — the natural sequel of an unnatural beginning". She dwells frequently upon the beauty and the melancholy of nature, upon the autumn where she had been wont to dwell upon the spring. She talks of the "influence so sweet and so sad of autumnal months in the country". She marks "the tawny leaves and withered hedges". "One does not love a place the less because one has suffered in it", she observes. But it is not only in a new sensibility to nature that we detect the change. Her attitude to life itself is altered. She is seeing it, for the greater part of the book, through the eyes of a woman who, unhappy herself, has a special sympathy for the happiness and unhappiness of others, which, until the very end, she is forced to comment upon in silence. Therefore the observation is less of facts and more of feelings than is usual. There is an expressed emotion in the scene at the concert and in the famous talk about woman's constancy which proves not merely the biographical fact that Jane Austen had loved, but the aesthetic fact that she was no longer afraid to say so. Experience, when it was of a serious kind, had to sink very deep, and to be thoroughly disinfected by the passage of time, before she allowed herself to deal with it in fiction. But now, in 1817, she was ready. Outwardly, too, in her circumstances, a change was imminent. Her fame had grown very slowly. "I doubt ", wrote Mr. Austen Leigh, "whether it would be possible to mention any other author of note whose personal obscurity was so complete." Had she lived a few more years only, all that would have been altered. She would have stayed in London, dined out, lunched out, met famous people, made new friends, read, travelled, and carried back to the quiet country cottage a hoard of observations to feast upon at leisure.
And what effect would all this have had upon the six novels that Jane Austen did not write? She would not have written of crime, of passion, or of adventure. She would not have been rushed by the importunity of publishers or the flattery of friends into slovenliness or insincerity. But she would have known more. Her sense of security would have been shaken. Her comedy would have suffered. She would have trusted less (this is already perceptible in Persuasion) to dialogue and more to reflection to give us a knowledge of her characters. Those marvellous little speeches which sum up, in a few minutes' chatter, all that we need in order to know an Admiral Croft or a Mrs. Musgrove for ever, that shorthand, hit-or-miss method which contains chapters of analysis and psychology, would have become too crude to hold all that she now perceived of the complexity of human nature. She would have devised a method, clear and composed as ever, but deeper and more suggestive, for conveying not only what people say, but what they leave unsaid; not only what they are, but what life is. She would have stood farther away from her characters, and seen them more as a group, less as inpiduals. Her satire, while it played less incessantly, would have been more stringent and severe. She would have been the forerunner of Henry James and of Proust — but enough. Vain are these speculations: the most perfect artist among women, the writer whose books are immortal, died "just as she was beginning to feel confidence in her own success".

Kiểm tra đơn hàng